vanban.org

Bản án 33/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV về việc "Tranh chấp hợp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chap HDTDung"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ- TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33 /2021/DS-ST
Ngày: 05-4-2021
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đức Hiếu

Ông Nguyễn Văn Trình

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ- Thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 05 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 168/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2021/QĐST-DS ngày 25/ 3/ 2021, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV(VPBFC).

Địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà RT, số 09, Đoàn Văn B, phường 12, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G - Chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên.

Người được ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng Tr, sinh năm 1995 và bà Phạm Thị Th, sinh năm 1995; cùng trú tại: 222 Ngô Huy D, phường H, quận C, tp Đà Nẵng.

(Văn bản ủy quyền số 3010/UQTA-VH.20 ngày 30/ 10/ 2020 của Chủ tịch hội đồng thành viên Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Lý Minh Kh, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số 48 Bình Th, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

(Đại diện theo ủy của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt lần 2).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV, bản tự khai đề ngày 05/4/2021 và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 05/3/2020, ông Nguyễn Lý Minh Kh ký Hợp đồng tín dụng số 20200304-0004163 với VPBFC vay số tiền 29,540,000 đồng, thỏa thuận trả dần trong vòng 36 tháng, lãi suất 2,5%/tháng; mục đích là để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận, ông Kh phải trả tổng số tiền nợ gốc và lãi là 45,123,819 đồng.

Thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Lý Minh Kh đã nhận đủ số tiền vay nêu trên để tiêu dùng cá nhân nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán cho công ty VPB FC bất kỳ một khoản tiền nào mặc dù công ty VPB FC đã rất nhiều lần đôn đốc nhắc nhở. Do ông Nguyễn Lý Minh Kh liên tục vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên công ty VPBFC khởi kiện ông Nguyễn lý Minh Kh.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Buộc ông Nguyễn Lý Minh Kh phải trả cho Công ty VPBFC tổng số tiền 37.474.597 đồng; trong đó: dư nợ: 29.540.000 đồng ; nợ lãi: 7.934.597 đồng (tạm tính đến ngày 05/4/2021) và ông Kh phải tiếp tục chịu lãi từ ngày 06/4/2021 cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần cho bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/10/2020 thì Công ty tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Lý Minh Kh trả số tiền nợ vay theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng ngày 05/03/2020 với mục đích vay là vay tiêu dùng cá nhân. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, quan hệ pháp luật là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng.

Về thẩm quyền: Bị đơn có địa chỉ tại số 48 Bình Th, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa Công ty tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV và ông Nguyễn Lý Minh Kh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Bị đơn ông Nguyễn Lý Minh Kh đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Kh.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty VPB FC đối với khoản tiền dư nợ và nợ lãi:

Ngày 05/03/2020, giữa ông Nguyễn Lý Minh Kh và Công ty VPB FC có ký kết Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng để ông Kh vay số tiền 29.540.000 đồng. Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 117, 398, 401 và 463 Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch. Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20200304-0004163 ngày 05/03/2020 do Công ty VPB FC cung cấp mà ông Nguyễn Lý Minh Kh có ký và xác nhận là cơ sở để xác định ông Kh có quan hệ tín dụng với Công ty VPB FC.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu buộc ông Nguyễn Lý Minh Kh phải trả cho Công ty VPBFC tổng số tiền là 37.474.597 đồng, trong đó: dư nợ: 29.540.000 đồng; nợ lãi: 7.934.597 đồng (tạm tính đến ngày 05/4/2021) và ông Kh phải tiếp tục chịu lãi từ ngày 06/4/2021 cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị đơn ông Kh đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng ngày 05/03/2020 đã ký kết với Công ty VPBFC. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty VPBFC đối với ông Kh là có cơ sở và phù hợp với các điều khoản trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng của Ngân hàng cũng như phù hợp với quy định tại Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Lý Minh Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 5% x 37.474.597 đồng = 1.873.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Các Điều 117, 398, 401 và 463 Bộ luật Dân sự;

- Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" đối với ông Nguyễn Lý Minh Kh.

2. Buộc ông Nguyễn Lý Minh Kh phải trả cho Công ty tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV tổng số tiền là: 37.474.597 đồng( Ba mươi bảy triệu, bốn trăm bảy mươi bốn nghìn, năm trăm chín mươi bảy đống), trong đó: dư nợ: 29.540.000 đồng; nợ lãi: 7.934.597 đồng (tạm tính đến ngày 05/4/2021).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Lý Minh Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.874.000 đồng( Một triệu, tám trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).

Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH Một Thành Viên - Ngân hàng TV số tiền tạm ứng án phí 1.128.000 đồng (Một triệu, một trăm hai mươi tám nghìn đồng). theo biên lai thu số 08517 ngày 23/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố phố Đà Nẵng.

4. Nguyên đơn có có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ