vanban.org

Bản án 33/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn E phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”. Xử phạt bị cáo Lê Văn E 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án 19/02/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 33/2020/HSST
Ngày: 19 - 02 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Nhuận;

2. Bà Nguyễn Kim Hoa.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương: Ông Trần Xuân Sỹ, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn E, sinh năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cƣ trú: 70/50A ấp 3, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B, sinh năm 1933 và bà Võ Thị E, sinh năm 1935; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1980 và có 02 con sinh năm 1998, 2002; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Bị hại: Lê Võ Nhựt N, sinh năm 1992 (đã chết). Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Võ Thị Hồng T, sinh năm 1969; nơi cƣ trú: A27C khu phố Bi, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng và ông Lê Văn L, sinh năm 1971; nơi cƣ trú: 220/54/37 tổ 62, khu 7, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng – là cha mẹ của ông N.

Ngƣời đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông L: Võ Thị Hồng T, sinh năm 1969; nơi cƣ trú: A27C khu phố B, phƣờng Bi, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

- Ngƣời làm chứng: Ông Hồ Hảo H, sinh năm 1985, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Lê Văn E là tài xế xe taxi, đã có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/6/2013 có giá trị đến ngày 17/6/2023.

Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 14/7/2019, Lê Văn E điều khiển xe ô tô biển số biển số 51G – 173.19 lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Chí Thanh hƣớng từ phƣờng B đến phƣờng H, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng khi xe lƣu thông đến đoạn thuộc khu phố B, phƣờng B, thị xã T do không quan sát khi chuyển hƣớng rẽ trái nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 61C1 – 770.33 do ông Lê Võ Nhựt N, sinh năm 1992 đang lƣu thông hƣớng ngƣợc lại. Hậu quả anh Lê Võ Nhựt N tử vong tại hiện trƣờng.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng tai nạn giao thông thể hiện:

- Hiện trƣờng là đƣờng Nguyễn Chí Thanh rộng 07 mét, đƣờng đƣợc trải nhựa phẳng và thẳng đoạn từ ngã tƣ Việt Trinh về ngã tƣ Ga. Nơi xảy ra tai nạn là ngã ba giao nhau với đƣờng Bình Nhâm 28 rộng 3,5 mét. Đƣờng đƣợc chia làm 02 chiều lƣu thông bởi 01 dải vạch sơn trắng đứt quãng ở giữa, mỗi chiều lƣu thông rộng 3,5 mét. Lấy mép chiều đƣờng từ ngã tƣ Việt Trinh đi về ngã tƣ Ga làm mép phải. Lấy trụ đèn số 50 trên lề đƣờng phải làm cột mốc.

- Xe ô tô biển số 51G – 173.19 dừng trên cả hai chiều đƣờng đầu xe hƣớng về ngã tƣ Việt Trinh và hơi chếch sang trái, hƣớng về đƣờng Bình Nhâm 28, trục trƣớc bên trái xe cách mép phải 1,6 mét và cách trụ đèn số 50 là 3,9 mét, trục sau bên trái xe cách mép phải 2,9 mét.

- Nạn nhân nằm ngửa hai chân thẳng ngay trƣớc đầu xe ô tô biển số 51G – 173.19, đầu nạn nhân cách mép phải đƣờng 1,2 mét và cách trục trƣớc bên trái xe ô tô biển số 51G – 173.19 là 1,6 mét, gót chân phải nạn nhân cách mép phải đƣờng 2,9 mét.

- Xe mô tô biển số 61C1 – 770.33 nằm ngã nghiêng bên phải đầu xe hƣớng về lề phải, trục trƣớc xe cách mép phải đƣờng 2,4 mét và cách đầu nạn nhân là 1,6 mét, trục sau xe cách mép phải đƣờng 3,4 mét.

- Dấu vết để lại trên xe ô tô biển số 51G – 173.19: Cản trƣớc dƣới xe bị bể cong móp về sau và bị sứt rời; mặt nạ trƣớc đầu xe màu đen bị bể, thụng móp về sau; toàn bộ mặt nắp ca bô bị cong móp và thụng xuống dƣới; nắp ca po bị hở lên trên; Bể ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng trƣớc phải.

- Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 61C1 – 770.33: Sứt rời yên xe; sứt rời ốp nhựa gác chân trƣớc phải; bể dè trƣớc; bể toàn bộ ốp nhựa phía trƣớc đầu xe và cụm đèn chiếu sáng trƣớc; mài mòn đầu tay cầm trái kích thƣớc 2x2 cm; bể kính chiếu hậu trái, chân kính bị cong; sứt rời và bể một phần ốp nhựa phía sau bên trái; khung sƣờn xe bị cong gập về sau; mài mòn gác chân chóng bên trái; mài mòn ốp lốc máy phía sau bên trái.

Bản kết luận giám định số 132/GĐCH-PC09 ngày 08 tháng 8 năm 2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

- Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 51G - 173.19 và xe mô tô biển số 61C1 - 770.33 là phần đầu bên phải xe ô tô (ốp cản trƣớc, biển kiểm soát, lƣới tản nhiệt) va chạm với phần trƣớc, bên trái đầu xe, bánh xe trƣớc, phuộc trƣớc bên trái và bửng trái xe mô tô.

- Cơ chế hình thành dấu vết trên xe ô tô biển số 51G - 173.19 và xe mô tô biển số 61C1 - 770.33 là xe mô tô lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Chí Thanh hƣớng từ phƣờng H về phƣờng B, đến đoạn thuộc khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng thì va chạm với xe ô tô đang lƣu thông theo hƣớng ngƣợc lại chuyển hƣớng rẽ trái làm xe mô tô đổ ngã sang trái va chạm với mặt đƣờng, tạo ra các dấu vết trên hai phƣơng tiện, gây ra vụ tai nạn giao thông trên.

- Vị trí va chạm giữa hai phƣơng tiện chiếu xuống mặt đƣờng là vị trí giữa đầu xe ô tô và đầu xe mô tô, thuộc chiều đi bên phải của đƣờng Nguyễn Chí Thanh hƣớng từ phƣờng H về phƣờng B.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 545/PC09-GĐPY ngày 20/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngoài; gãy nhiều xƣơng sƣờn, xƣơng đùi; dập rách 02 phổi; vỡ 2/3 động mạch chủ ngực.

- Nguyên nhân chết của Lê Võ Nhật N: Do đa chấn thƣơng ngực, dập rách hai phổi, đứt động mạch chủ ngực chảy máu không hồi phục.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS-TA ngày 09/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Lê Văn E về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lê Văn E từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng cho ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại 220.000.000 đồng và ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại xác định, bị cáo đã bồi thƣờng cho gia đình bị hại số tiền 220.000.000 đồng nên gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm và đề nghị không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất tội danh truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phát cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sửa đổi trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn E khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 14/7/2019, Lê Văn E điều khiển xe ô tô biển số 51G-173.19 lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Chí Thanh hƣớng từ phƣờng Bi đến phƣờng H, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng do không quan sát khi chuyển hƣớng rẽ trái nên đã va chạm với xe mô tô biển số 61C1-770.33 do ông Lê Võ Nhựt N điều khiển. Hậu quả, ông N tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đƣờng bộ năm 2008, làm chết 01 ngƣời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Văn E phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định và biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng không chấp hành nghiêm chỉnh, khi điều khiển xe thiếu sự quan sát. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nƣớc về an toàn, trật tự công cộng, tƣớc đi mạng sống của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng đến trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ tại địa phƣơng. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại; ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng và việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo.

Mức hình phạt theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã bồi thƣờng cho ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền 220.000.000 đồng và ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô biển số 61C1-770.33, quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu của bị hại ông Lê võ Nhựt N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã trả lại xe trên cho ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe ô tô biển số 51G-173.19, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Lê Văn E nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã trả lại chiếc xe trên cho bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn E phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn E 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo; thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án 19/02/2020.

Giao bị cáo Lê Văn E cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp bị cáo Lê Văn E thay đổi nơi cƣ trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Lê Văn E phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ