vanban.org

Bản án 33/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt: Trương Quang P 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 06/01/2020. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Quang Phương - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33 /2020/HSST
Ngày: 28/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2020/TLST -HS ngày 11 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/HSST-QĐ ngày 31/3/2020 đối với bị cáo:

Trương Quang P, sinh năm 1988; nơi ĐKHKTT và cư trú: Đội 6, thôn HX, xã ĐP, huyện CM, Thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trương Công T và bà Vũ Thị N; vợ: Bùi Thị Y và 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không;

Danh chỉ bản số 57 do Công an huyện Chương Mỹ lập ngày 31/12/2019; Bị tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 06/01/2020 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1956 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn 1, xã QB, huyện CM, Tp. Hà Nội.

- Ông Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1954 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn 1, xã QB, huyện CM, Tp. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 27/12/2019, Trương Quang P một mình đi xe ôm của một người không quen biết đến khu vực vườn hoa Hà Đông, Tp. Hà Nội để tìm mua ma túy nhằm mục đích sử dụng. Khi đến nơi, P đã mua của một nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ được 01 gói ma túy dạng đá với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P cất giấu trong túi áo khoác bên phải đang mặc trên người và đi về. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, P đi về đến khu vực thôn 1, xã QB, huyện CM thì bị lực lượng công an xã QB, huyện CM kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nilông màu trắng, kích thước (2x2) cm, bên chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý tổng hợp dạng đá.

Tại Kết luận giám định số 129/KLGĐ - PC54 ngày 04/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Tp. Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng: 0,594 gam”.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 04/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Trương Quang P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS 2015).

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, phạt Trương Quang P từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong là Methamphetamine.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người làm chứng: Xét thấy trong quá trình điều tra người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 27/12/2019 tại thôn 1, xã QB, huyện CM, Tp. Hà Nội, Trương Quang P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,594 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của Trương Quang P đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Trương Quang P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân cách con người. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do đó cần xử lý nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo từ bỏ ma túy và đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bà ngoại được tặng Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đầy là các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Đối với người bán ma túy cho P, Cơ quan điều tra không xác định được nên không đề cập xử lý trong vụ án.

Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong bên trong có Methamphetamine là tang vật của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt: Trương Quang P 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 06/01/2020.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội niêm phong, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên Phạm Đình Đ và đối tượng Trương Quang P (bên trong chứa Methamphetamine).

(Số vật chứng, tình trạng vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2020).

4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ