vanban.org

Bản án 33/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 03/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đô T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Đô T 03 năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đô T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Đô T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên xử; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:33/2020/HS-ST
Ngày 03-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Tphần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Đinh Công Trường

2.Bà Phạm Thị Hiền

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lưu Thị Liên– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Nam– Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 03 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST-HS ngày 18/02/2020 đối với bị cáo

Trần Đô T(Tên gọi khác: không), sinh ngày 06 tháng 01 năm 1996, tại thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: đường H, khu phố 4, thị trấn B, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh ; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha là ông Nguyễn V ( Đã chết) ; Mẹ là bà Trần Thị L, sinh năm 1959; bị cáo chung sống như vợ chồng vơi Hoàng T, sinh năm 1994 ; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2016

Tiền án: 01- Ngày 29/10/2014 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 356/2014/HSST). Bị cáo nộp tiền án phí ngày 02/01/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/10/2019, chuyển tạm giam từ ngày 16/10/2019 cho đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1959, địa chỉ: Khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đô T sử dụng ma túy tổng hợp từ tháng 05/2019 cho đến nay nên ngày 14/10/2019 T đến khu vực đường khu công nghiệp thuộc phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gặp một người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 06 gói ma túy tổng hợp với giá 850.000 đồng. Sau đó, T mang số ma túy trên về nhà thuộc khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lấy ra một ít để sử dụng, số ma túy còn lại T cất giấu trong 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet để trong phòng. Đến 11 giờ 00 phút cùng ngày, cơ quan Công an thị xã Phú Mỹ tiến hành kiểm tra nhà của T thì phát hiện, bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép số ma túy nêu trên. Tang vật thu giữ gồm: 06 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt được dấu trong 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet để trên nền nhà; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và số tiền 200.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra công an thị xã Phú Mỹ, Trần Đô T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản Kết luận giám định số 359/GĐMT-PC09 (Đ2) ngày 22/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định mẫu kết tinh không màu-trong suốt chứa trong 06 (sáu) gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu vàng, có hình dấu của Công an phường Mỹ Xuân – Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Hoàng Bá Hai, Nguyễn Nam Chiến, Trần Đô T, Võ Thế Cường, Trần Thị L, gửi đến giám định có tổng khối lượng 2,9121 gam, là ma túy loại Methamphetamine

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục của Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Về vật chứng vụ án: 01 (một) phong bì niêm phong chất ma tuý đề số: 359 ngày 22/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gửi trả sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và số tiền 200.000 đồng

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã Quyết định chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

- Tại bản Cáo trạng số: 37/CT- VKS ngày 07/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Trần Đô T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra ,khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đô T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 02 (Hai năm) - đến 03 (ba) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên: Tịch thu tiêu hủy 06 (sáu) gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu vàng, có hình dấu của Công an phường Mỹ Xuân – Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng;

Trả lại cho bị cáo số tiền 200.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng

Tịch thu tiêu hủy 1 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định

Về trách nhiệm dân sự: Không

Bị cáo nói lời nói sau cùng

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án và tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy có đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 11 giờ ngày 14/10/2019 tại tổ 7, khu phố Thị Vải, phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, T đã có hành vi tàng trữ 06 gói ma túy có khối lượng 2,9121 gam, loại Methamphetamine trong phòng ở nhằm mục đích sử dụng dần thì bị phát hiện bắt quả tang. Trần Đô T khai nhận số ma túy trên là của T, cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, biết rõ Nhà nước nghiêm cấm tất cả các hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, nhưng vì phục vụ cho nhu cầu sử dụng của bản thân nên vẫn bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lẽ ra bị cáo phải rút ra làm bài học cảnh tỉnh cho bản thân, nhưng lần này bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tại phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không

Đối tượng tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho Trần Đô T, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: 01(một) phong bì niêm phong chứa chất ma tuý đề số: 359 ngày 22/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gửi trả sau giám định là đối tượng bị Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng là phương tiện bị cáo dùng liên lạc với đối tượng tên T để mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước ; Trả lại cho bị cáo số tiền 200.0000 là tiền cá nhân của bị cáo và 1 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng là phương tiện bị cáo dùng để chơi game không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đô T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đô T 03 năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/10/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đề số 359 ngày 22/10/2019 do Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu niêm phong và đóng dấu, bên trong chứa mẫu vật ma túy còn lại sau giám định

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu trắng hiệu Sam Sung model : GT- I8552, Imel 1: 027029/7, Imel 2: 027029/4 máy đã cũ, bể màn hình

- Trả lại cho bị cáo số tiền 200.000đ và 01 điện thoại di động màu trắng hiệu Nokia model TA-1032 máy đã cũ, bể màn hình.

(Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 42/BB-CCTHADS ngày 07/02/2020).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đô T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ