- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Thị M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Vi Thị M; tên gọi khác: Hà Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2020/HS-ST Ngày 23/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đình Hà và ông Cầm Bá Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Hải Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà:
Bà Lang Thị Ngọc Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện huyện Q; Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án Hình sự thụ lý số 41/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Vi Thị M; Tên gọi khác: Hà Thị M; sinh năm 1969, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Bản Th, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên trồng trọt; trình độ học vấn: Lớp 1/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi Văn L (Đã chết); con bà: Vi Thị L; có chồng: Hà Văn Th và 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2020. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Vi Thị M: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng: Chị Hà Thị Minh T, sinh năm 2001; trú tại bản Th, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/5/2020 có một người không quen biết đến đưa cho Vi Thị M 1.500.000 đồng để đi mua ma túy và hứa sẽ trả tiền công cho 700.000 đồng. M cầm tiền và đi mua một gói Heroine về cất giấu. Đến khoảng 11 giờ, ngày 06/5/2020 người đàn ông đưa tiền cho bị cáo gọi điện nói bị cáo đưa ma túy đến tại thác S thuộc địa phận xã T, huyện Q để giao và nhận tiền. Vi Thị M nhờ con gái tên là Hà Thị Minh T chở đến Thác S, khi gần đến nơi bị cáo nói T dừng xe chờ, còn bị cáo đi bộ đến điểm hẹn, trong lúc đang trao đổi mua bán thì bị bắt quả tang. Thu giữ của bị cáo một gói chất bột màu trắng; thu giữ một chiếc xe máy của chị Hà Thị Thanh T. Lợi dụng sơ hở người đến mua ma túy với bị cáo đã bỏ trốn.
Bản kết luận giám định số 611/KL- PC09(Đ2-MT) ngày 11/5/2020 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vi Thị M gửi tới giám định là Heroine. Số chất bột màu trắng thu giữ của Vi Thị M có khối lượng 6,06 gam (Sáu phẩy không sáu gam).
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vi Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Vào lúc 11 giờ 45 phút, ngày 06/5/2020 tại khu vực Thác S, thuộc địa phận xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Vi Thị M đang bán trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang.
Cáo trạng số 42/CT-VKS- HS ngày 10/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Vi Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo và người đến mua ma túy với bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ, nên không có cơ sở để điều tra xử lý. Đối với chị Hà Thị Minh T có hành vi chở bị cáo đến Thác S, nhưng chị T không biết bị cáo đưa ma túy đi bán, nên hành vi không cấu thành tội phạm.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vi Thị M từ 07 năm đến 08 năm tù.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 06/5/2020 tại địa phận xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, bị cáo Vi Thị M đang bán trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Thu 6,06 gam Heroine. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Vi Thị M từ 07 năm đến 08 năm tù; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là hợp lý.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 6,06 gam Heroine. Cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 0,3 gam, còn lại 5,76 gam. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe máy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Hà Thị Minh T, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Vi Thị M; tên gọi khác: Hà Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Phạt Vi Thị M; tên gọi khác: Hà Thị M 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/5/2020.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ một phong bì thư bưu điện, bên trong có 5,76 (Năm phẩy bảy mươi sáu) gam Heroine, vỏ gói ma túy thu giữ của bị cáo Vi Thị M; tên gọi khác: Hà Thị M; phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.
Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 11/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vi Thị M; tên gọi khác: Hà Thị M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vi Thị M; tên gọi khác: Hà Thị M có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo. - VKSND huyện Q. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Q. - Chi cục THA DS huyện Q. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |