vanban.org

Bản án 33/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 25/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Bùi P: 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ 02/01/2020 đến ngày 10/01/2020 . Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi P - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢỚNG HÓA
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2020/HS-ST
Ngày 25- 6- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Lê Quốc Hải

2.Ông Lê Gia Bảng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Phan Lê Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST-HS ngày12 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi P; sinh ngày 16/11/1970 tại TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: 15/84 Lê Thánh T, phường T, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ Trần Thị Ánh N, sinh năm 1986 và 04 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/9/2001 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP.Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ 02/01/2020 đến ngày 10/01/2020 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02 tháng 01 năm 2020, Bùi P ở phường Thuận Lộc, thành phố Huế điều khiển xe ô tô tải đi cùng phụ xe là anh Nguyễn Đôn Thôi ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa thiên Huế chở hàng hóa từ thành phố Huế ra tỉnh Quảng Trị giao cho khách ở thị trấn Lao Bảo và chở hang hóa về thành phố Huế lấy tiền cước. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày trong khi anh Thôi đang bốc hàng bốc hàng hóa lên xe, P đi bộ đến dãy quán trước của khẩu Quốc tế Lao Bảo tìm mua ma túy tổng hợp dạng nén về sử dụng. Thấy một nhóm thanh niên lạ mặt (quá trình điều tra không xác định được lai lịch) đang ngồi chơi, P đi đến hỏi mua ma túy, sau khi trao đổi, P đưa cho người thanh niên 900.000 đồng, người này cầm tiền rồi chỉ vào bao thuốc lá đặt ở trụ bê tông ở trong dãy quán và nói bên trong có 25 viên ma túy, P đến lấy ma túy rồi đi ra ngoài và lấy ra 01 chuỗi có 03 viên ma túy bỏ vào trong ví đựng tiền, số còn lại P bỏ vào phía trong vành mũ lưỡi trai đang đội trên đầu nhưng không kiểm đếm bao nhiêu viên. Sau đó Bùi P điều khiển xe ô tô chở anh Nguyễn Đôn Thôi đi ăn tối rồi điều khiển xe về hướng thành phố Đông Hà. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đến Km 73 +50 Quốc lộ 9 thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị đang làm nhiệm vụ đưa phương tiện về đội Trinh sát đặc nhiệm – Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị tại thôn Làng Vây, xã Tân Long, huyện Hướng Hóa để kiểm tra do có dấu hiệu nghi vấn vận chuyển hàng hóa nhập lậu. Trong quá trình làm việc tại đội Trinh sát đặc nhiệm, Bùi P bị phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra đã thu giữ của Bùi P:

- 14 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có dập chữ WY; 01 viên nén hình trụ tròn màu xanh, trên một bề mặt có dập chữ A, một bề mặt có dập chữ Y1; (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT01)

- 03 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có dập chữ WY; (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT02)

- 01 cái mũ lưỡi trai màu xanh và 01 cái ví da màu nâu đã qua sử dụng; (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT03)

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia -1010 màu đen đã qua sử dụng gắn thẻ Sim Vina phone không xác định số thuê bao và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S, màu bạc đã qua sử dụng gắn thẻ sim Viettel có số thuê bao 0965.252.727; (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT04).

- Quá trình điều tra đã trả lại cho bị cáo Bùi P 01 điện thoại di động hiệu Nokia -1010 màu đen đã qua sử dụng gắn thẻ Sim Vina phone không xác định số thuê bao và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S, màu bạc đã qua sử dụng gắn thẻ sim Viettel có số thuê bao 0965.252.727

Kết luận giám định số 86/KLGĐ ngày 06/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 14 viên nén màu hồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT01) gửi đến giám định có khối lượng 1,4093g là ma túy loại Methamphetamine; 01 viên nén màu xanh (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT01) ) gửi đến giám định có khối lượng 0,1027g là ma túy loại Methamphetamine; 03 viên nén màu hồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT02) ) gửi đến giám định có khối lượng 0,3057 là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetammine là ma túy loại Metham phetamine. Methamphetamine là chất ma túy năm trong danh mục II, STT: 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại sau giám định: Mẫu MT01: 1,3652 chất bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine; Mẫu MT02: 0,2656g chất bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine. Tất cả được cho vào 01 túi niêm phong, ký hiệu mã số PS3A102851, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Trị

Bản cáo trạng số: 29/CT-VKSHH ngày 14 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Bùi P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị: Tuyên bố bị cáo Bùi P phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy", căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi P từ 12 đến 18 tù, thời hạn tù tính từ ngày ngày bị bắt thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ 02/01/2020 đến ngày 10/01/2020 .

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được đặt trong 01 túi niêm phong, ký hiệu mã số PS3A102851, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Trị là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Đối với 01 cái mũ lưỡi trai màu xanh và 01 cái ví da màu nâu đã qua sử dụng là công cụ phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu, tiêu hủy. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Bùi P trình bày lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình thực hiện như Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sữa chửa lỗi lầm và làm công dân tốt có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hướng Hóa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định: Ngày 02 tháng 01 năm 2020, bị cáo Bùi P bị lực lượng chức năng bắt quả tang về hành vi cất giấu trong ví và vành mũ lưỡi trai 18 viên viên nén (14 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có dập chữ WY; 01 viên nén hình trụ tròn màu xanh, trên một bề mặt có dập chữ A, một bề mặt có dập chữ Y1; 03 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có dập chữ WY) để sử dụng, có tổng khối lượng 1,8177g là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT: 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.Vì vậy hành vi của bị cáo Bùi P đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Ngày 13/9/2001 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP.Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi P trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51. Hoàn cảnh gia đình bị cáo đang gặp khó khăn và đang phải nuôi 04 con còn nhỏ, vợ không có việc làm và thường xuyên đau ốm, bản thân bị cáo tham gia tích cực trong phong trào toàn dân bảo vệ tổ quốc, vận động và hưởng ứng phong trào tương thân tương ái “ Là lành đùm lá rách” của Mặt trận TQVN phường Thuận Lộc phát động, đã đứng ra và thường xuyên quyên góp tiền để chữa trị, nuôi dưỡng cho anh Trần Quang Hùng là người có hoàn cảnh khó khăn không nơi nương tựa, bị bệnh nan y trong khu phố. Vì vậy cần cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xét tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây mất an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Cũng như nhằm đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội về ma túy đang diễn biến ngày càng phức tạp trên địa bàn. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ tại khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên xử ơ mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ giáo dục bị cáo.

Cần tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

.Về xử lý vật chứng : Đối với số ma túy sau giám định được đặt trong 01 túi được niêm phong, mã số PS3A102851 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 cái mũ lưỡi trai màu xanh và 01 cái ví da màu nâu đã qua sử dụng là công cụ phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu, tiêu hủy.

Vật chứng liên quan đến vụ án hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2020

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia -1010 màu đen đã qua sử dụng gắn thẻ Sim Vina phone không xác định số thuê bao và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S, màu bạc đã qua sử dụng gắn thẻ sim Viettel có số thuê bao 0965.252.727 bị cáo Bùi P không sử dụng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo Bùi P là đúng quy định pháp luật.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 , Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Bùi P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Bùi P: 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ 02/01/2020 đến ngày 10/01/2020 .

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được đặt trong 01 túi niêm phong, mã số PS3A102851của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.

Tịch thu, tiêu hủy 01 cái mũ lưỡi trai màu xanh và 01 cái ví da màu nâu đã qua sử dụng.

Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2020

3. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ