- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Minh H phạm tôi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2020/HS-ST Ngày: 24/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Phước Tâm
2. Bà Hồ Thị Mai Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sang, ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2020/HSST-QĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:
Bùi Minh H, sinh năm 1996 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp Bình B, xã BT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Bùi Thanh H, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Hồng D, sinh năm 1979; Vợ tên Trần Thị Kiều T, sinh năm 1994; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Trần Thị B - sinh năm 1948 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Nguyễn Văn O - sinh năm 1983; Nguyễn Văn P - sinh năm 1976; Nguyễn Thanh H - sinh năm 1979; cùng cư trú: Ấp BH, xã BT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh Nguyễn Văn P và anh Nguyễn Thanh H cùng ủy quyền cho anh Nguyễn Văn O theo các văn bản ủy quyền ngày 17/4/2020; anh O có đơn xin xét xử vắng mặt và đã vắng mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bùi Thanh H - sinh năm 1975; cư trú: Ấp Bình B, xã BT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Người làm chứng:
+ Trần Thị Kiều T - sinh năm 1994; cư trú: Ấp Bình B, xã BT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
+ Trương Thị N - sinh năm 1959; cư trú: Ấp 1, xã PM, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
+ Lê Minh T - sinh năm 1974: cư trú: Ấp 1, xã PM, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Bùi Minh H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 07 giờ, ngày 14/3/2020, Bùi Minh H điều khiển xe mô tô loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66H1-183.32 trong tình trạng không có giấy phép lái xe, phía sau chở vợ là Trần Thị Kiều T và con tên Bùi Khả H lưu thông trên Quốc lộ 30 hướng từ huyện TB đi thành phố CL. Khi đến khu vực cầu PM thuộc địa phận ấp 1, xã PM, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp, do không chú ý quan sát tầm nhìn phía trước nên khi H phát hiện bà Trần Thị B (sinh năm 1948, ngụ ấp BH, xã BT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp) đang dẫn xe đạp đi cùng chiều phía trước cách xe của H khoảng 2 mét. Do khoảng cách quá gần nên H lái lách sang trái thì thắng chân bên phải xe mô tô vướng trúng mặt sau cẳng chân trái của bà B làm xe đạp cùng bà B ngã xuống đường trượt 01 đoạn khoảng 7m còn xe mô tô, H, T, H cũng bị ngã xuống đường. Hậu quả, bà B bị thương nặng tử vong trên đường đi cấp cứu; T, H bị xây xát nhẹ; H bị chấn thương đầu, xây xát nhiều chỗ được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp và ra viện cùng ngày.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 80/TTh-TTPY ngày 14/3/2020 của Trung tâm pháp y Đồng Tháp xác định: “Nạn nhân chết do: Chấn thương sọ não/Tai nạn giao thông”.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lúc 09 giờ ngày 14/3/2020 tại ấp 1, xã PM xác định: “Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn trên cầu PM dài 368,46m, rộng 11m. Cầu thẳng, dốc, phẳng, mặt cầu không trơn trợt. Cầu bằng bê tông cốt thép hai chiều xe chạy ở giữa mặt cầu có vạch sơn phân tuyến liên tục. Cách mép ngào cầu 2m (lang cang cầu) bên phải, bên trái có vạch sơn liên tục”. “Chọn mép bên phải (lan cang cầu PM) hướng từ huyện TB đi thành phố CL làm mép chuẩn của đoạn cầu nơi xảy ra tai nạn”, “vùng đụng có kích thước 0,4m x 0,5m, có tâm cách mép chuẩn 2,8m”.
Vật chứng thu giữ gồm: Giấy chứng minh nhân dân số 341806333 mang tên Bùi Minh H do Công an Đồng Tháp cấp ngày 27/11/2012, giấy đăng ký xe mô tô biển số 66H1-183.32 mang tên Bùi Thanh H, chiếc xe đạp bị hư hỏng, xe mô tô loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66H1-183.32 bị hư hỏng.
Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn O và bị cáo H đã thỏa thuận xong về mức bồi thường thiệt hại là 30.000.000 đồng. Ông O đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm. Đối với chiếc xe đạp của bà B bị hư hỏng nhẹ, ông O không yêu cầu bồi thường và xin nhận lại để gia đình tự sửa chữa.
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS-HCL ngày 10/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Bùi Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa sơ thẩm:
* Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Minh H với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh tuyên hoàn trả lại xe mô tô loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66H1-183.32 cùng giấy đăng ký tên Bùi Thanh H cho ông Bùi Thanh H. Trả lại xe đạp của bà Nguyễn Thị Biết cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn Ở. Trả giấy chứng minh nhân dân số 341806333 mang tên Bùi Minh H do Công an Đồng Tháp cấp ngày 27/11/2012 cho Bùi Minh H.
* Bị cáo Bùi Minh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nên không có gì tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về địa phương lao động phụ giúp gia đình.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thanh H thống nhất với toàn bộ nội dung cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, ông cho rằng chiếc xe mô tô Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66H1-183.32 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông, việc bị cáo sử dụng và gây tai nạn thì ông không biết nên ông yêu cầu được nhận lại. Ngoài ra, ông còn trình bày thêm là ông có tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, nhưng ông sẽ tự thỏa thuận với đơn vị bán bảo hiểm nên ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Minh H đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 28/CT-VKSHCL ngày 10/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Bản thân bị cáo chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe theo luật định nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe mô tô hướng từ huyện Thanh Bình đến thành phố Cao Lãnh, khi đến khu vực cầu PM thuộc địa phận xã PM, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp, do không chú ý quan sát nên đã xảy ra va chạm với xe đạp do bà Trần Thị B đang dẫn bộ cùng chiều phía trước vào lúc khoảng 07 giờ ngày 14/3/2020, hậu quả làm bà B tử vong trên đường đi cấp cứu; theo kết luận giám định pháp y thì nạn nhân chết do “Chấn thương sọ não/Tai nạn giao thông”.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản hiện trường xảy ra vụ tai nạn, kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Minh H đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét hành vi của bị cáo Bùi Minh H, khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo thực hiện hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ đã không chấp hành đúng quy định về đảm bảo an toàn giao thông như, không có giấy phép lái xe theo quy định, thiếu chú ý quan sát gây ra tai nạn giao thông dẫn đến thiệt hại về tính mạng cho người bị hại. Hành vi điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định, đây là tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; về nhân thân, bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, mới phạm tội lần đầu, hiện đang nuôi con còn nhỏ; sau khi sự việc xảy ra thì bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong cho phía người bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; đồng thời, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn của bị cáo nên cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66H1-183.32 cùng giấy đăng ký tên Bùi Thanh H, đây là tài sản của ông H, việc bị cáo tự ý sử dụng xe và gây tai nạn thì ông không hay biết gì, nay ông H có yêu cầu được nhận lại tài sản này nên cần phải hoàn trả lại cho ông H.
- Đối với chiếc xe đạp của bà Nguyễn Thị B bị hư hỏng nhẹ, đại diện hợp pháp của bà B là anh Nguyễn Văn O có yêu cầu được nhận lại để tự sửa chữa và cũng không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên cần phải trả lại cho những người đại diện hợp pháp của bà Biết có anh O đại diện nhận.
- Đối với giấy chứng minh nhân dân số 341806333 mang tên Bùi Minh H do Công an Đồng Tháp cấp ngày 27/11/2012 là giấy tờ cá nhân của bị cáo không liên quan gì đến vụ án nên cần phải trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong, người đại diện hợp pháp của người bị hại đã được giải thích các khoản được quyền yêu cầu bồi thường theo luật định nhưng không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thanh H cho rằng ông là chủ sở hữu xe mô tô Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66H1-183.32, ông có tham gia hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, trong vụ án này ông không có yêu cầu gì đối với hợp đồng bảo hiểm, ông sẽ tự thỏa thuận với đơn vị bán bảo hiểm, nếu có phát sinh tranh chấp thì ông sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Bùi Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Bùi Minh H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường, khắc phục hậu quả xong, người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Trả lại cho ông Bùi Thanh H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu đỏ đen, số máy JA31E0347383, số khung RLHJA3112EY191777, biển số 66H1-183.32 cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 006790 mang tên Bùi Thanh H.
+ Trả lại 01 (một) xe đạp đã qua sử dụng cho những người đại diện hợp pháp của bà B, có anh Nguyễn Văn O đại diện nhận.
+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 341806333 mang tên Bùi Minh H do Công an Đồng Tháp cấp ngày 27/11/2012.
(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp quản lý theo biên bản giao vật chứng ngày 06/7/2020)
- Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Bùi Minh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Cao Lãnh; - CA huyện Cao Lãnh; - THADS huyện Cao Lãnh; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Văn Phong |