vanban.org

Bản án 33/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 11/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HSST, ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T, phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn T đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
_______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2020/HS-PT
Ngày: 11-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Lực

Ông Ngô Đê

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm An Bình, Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng, Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2020/HSPT ngày 22/7/2020 đối với bị cáo Huỳnh Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HSST, ngày 17/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Văn T sinh năm 1985 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp N, xã Hưng Mỹ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn M sinh năm 1962 và bà Phạm Thị E sinh năm 1962; có vợ Nguyễn Thị Trúc L sinh năm 1989 và 2 người con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án: ngày 12/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng về tội "Tổ chức đánh bạc", tiền sự: không; nhân thân: xấu; bị cáo bị cáo cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/2/2020 tại ngoại cho đến nay. (bị cáo có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 30 tháng 12 năm 2019, Đặng Văn H, Đồng Duy L, Phạm Đức T1, và Huỳnh Văn T đến quán nước của Trần Văn T2 uống nước. Sau đó, H rủ L, T1 vàT đánh bài tiến lên ăn thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Hình thức chơi bài tây là 04 người chia 04 tụ, mỗi tụ được chia 13 lá bài, ai đánh hết trước sẽ thắng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.480.000 đồng, cụ thể của từng người như sau: H 780.000 đồng, L 500.000 đồng, T1 vàT mỗi người 100.000 đồng. Hình thức ăn thua là người nào thắng nhất thì ăn người thắng cuối là 40.000 đồng, người thắng nhì ăn người thắng ba là 20.000 đồng. Ngoài ra H, L, T1, vàT còn qui định người nào ăn hai màu đen thì người bị ăn thua 20.000 đồng, người nào ăn hai màu đỏ thì người bị ăn thua 40.000 đồng, tất cả đánh được đến ván thứ ba thì Công an vào kiểm tra phát hiện và lập biên bản thu giữ tang vật trên, trong đó có 20.000 đồng của L đánh rơi. Khi đó L thua 20.000 đồng nhưng không biết thua ai, H thua T1 40.000 đồng nhưng chưa chung tiền,T thì không thắng không thua.

Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm: 01 bộ bài tây 52 lá đang sử dụng, 01 xe môtô biển kiểm soát: 84B1: 164.40; 01 xe môtô biển kiểm soát: 54F2-2798; và số tiền 20.000 đồng.

Kiểm tra và thu giữ trong người của: Đặng Văn H 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, tiền mặt 780.000 đồng, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên (Đặng Văn H), và 01 giấy đăng ký xe môtô biển số: 84B1-164.40.

Phạm Đức T1: số tiền mặt 1.830.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Xphone màu đen.

Đồng Duy L: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh đen, số tiền 21.000.000 đồng, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Đồng Duy L, 01 giấy đăng ký xe môtô biển số: 54F2-2798.

Huỳnh Văn T số tiền mặt là 4.500.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia màu đen.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HSST, ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T, phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Áp dụng: Điều 56, và Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Áp dụng: Điều 7 Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải chấp hành 01 năm 06 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2019/HSST, ngày 12/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tổng hợp hình phạt:

Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải chấp hành 02 bản án là: 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, bị cáo Huỳnh Văn T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm thể hiện là đúng. Bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, có đủ cơ sở kết luận, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt 03 năm tù là phù hợp với tính chất và hậu quả của vụ án, nhân thân bị cáo, đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ là gia đình có công với cách mạng và hoàn cảnh gia đình khó khăn chỉ là những tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 không phải là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo để về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo khai và thừa nhận vào khoảng 8 giờ ngày 30 tháng 12 năm 2019, Đặng Văn H, Đồng Duy L, Phạm Đức T1, và Huỳnh Văn T đến quán nước của Trần Văn T2 uống nước. Sau đó, H rủ L, T1 vàT đánh bài tiến lên ăn thua bằng tiền mặc dù tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng trước khi phạm tội lần này bị cáo đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích với hành vi “Tổ chức đánh bạc”. Do đó án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là chính xác, đúng quy định pháp luật và đúng với hành vi của bị cáo.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo vào năm 2017 và 2018 có 03 lần bị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hình chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc mặc dù đã được xóa tiền sự và đã có 01 tiền án về hành vi tổ chức đánh bạc, bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt hình phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo vào năm 2019 nhưng không biết ăn năn, hối cải mà tiếp tục vi phạm cũng về tội đánh bạc đây là bị cáo có nhân thân đặc biệt xấu xem thường pháp luật và khó cảm hóa, giáo dục nên phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo, khi áp dụng hình phạt cấp sơ thẩm buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo theo bản án 07/2019/HSST, ngày 12/3/2019 và tổng hợp với hình phạt của tội mới lần này và tổng hợp hình phạt, tuyên phạt bị cáo 03 năm tù với mức hình phạt này cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện tính chất vụ án, đánh giá đúng về nhân thân của bị cáo, áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo có cung cấp tình tiết giảm nhẹ là gia đình có công với cách mạng và gia đình có hoàn cảnh khó khăn đây là các tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 không phải và cũng không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Đề nghị của Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí: Do kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HSST, ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T, phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 ; Điều 38; Điều 56 và Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Huỳnh Văn T, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải chấp hành 01 năm 06 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2019/HSST, ngày 12/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải chấp hành hình phạt cũa 02 bản án là: 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2019/HSST, ngày 17/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ