- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? C n cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 143; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đ nh n m
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2020/HNGĐ-ST. Ngày 28 - 10 - 2020. V/v tranh chấp:“Kiện xin ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh V n Chi và bà Đoàn Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phủ lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 n m 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 n m 2020 về việc “Kiện xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 n m 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2020/QĐST ngày 19 tháng 10 n m 2020 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn V n T, sinh n m 1981.
* Bị đơn: Chị Phạm Thị Thu H, sinh n m 1982.
Cùng địa chỉ: Số nhà 87, đường LD, tổ 8, phường THĐ, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.
Tại phiên toà có mặt anh T, chị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, biên bản tự khai, các tài liệu có trong h sơ vụ án và trong quá tr nh xét xử nguyên đơn anh Nguyễn V n T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Nguyễn V n T và chị Phạm Thị Thu H kết hôn vào ngày 22/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã BT, huyện DT (nay là thị xã DT), tỉnh Hà Nam, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ ch ng chung sống hạnh phúc được khoảng 3 n m th phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ ch ng bất đ ng về quan điểm sống từ cách nuôi dậy con chung đến việc làm n phát triển kinh tế gia đ nh. Vợ ch ng thường xuyên xảy ra xung đột, tranh luận kéo dài khiến cuộc sống hôn nhân trở nên c ng thẳng. Cả hai vợ ch ng đều ý thức được việc vợ ch ng mâu thuẫn sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đ nh và ảnh hưởng đến các con nên đã nhiều lần sau khi cãi vã cả hai đã t m cách tự hòa giải và nhờ các kênh khác như gia đ nh, bạn bè và người thân tham gia hòa giải với mục đích cải thiện cuộc sống gia đ nh nhưng không có kết quả. Vì không giải tỏa được những bức xúc trong cuộc sống hôn nhân nên thời gian gần đây anh và chị H ít giao tiếp trao đổi với nhau. Hiện tại anh T vẫn ở chung nhà với chị H nhưng không ng i n cùng với nhau. Đôi khi để giảm bớt c ng thẳng thì anh T lại đi vài ngày mới về nhà. Thực tế chị H có yêu cầu anh T không ở chung nhà và không n cùng mâm với chị H và các con vì chị H cảm thấy không thoải mái khi n cùng với anh T. Từ đầu n m 2020 đến nay vợ ch ng đã không còn quan hệ sinh lý với nhau nữa và c ng sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định t nh cảm vợ ch ng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
- Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 30/12/2007 và cháu Nguyễn Hùng P, sinh ngày 14/7/2014. Khi vợ ch ng ly hôn anh T có nguyện vọng được ch m sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hùng P và để chị H nuôi dưỡng, ch m sóc cháu Nguyễn Mạnh H1. Tại phiên tòa, anh T có nguyện vọng nuôi một con chung, nếu chị H nuôi dưỡng cháu P th anh nuôi dưỡng cháu H1. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Con riêng, con nuôi: Vợ ch ng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn chị Phạm Thị Thu H trình bày:
- Về hôn nhân: Về ngày tháng, địa điểm, điều kiện kết hôn chị H công nhận anh T khai là đúng. Theo chị H trong quá trình chung sống vợ ch ng luôn luôn hòa thuận hạnh phúc, quan tâm thương yêu nhau. Đôi lúc vợ ch ng có sẩy ra những tranh luận, những quan điểm không đ ng nhất nhưng theo chị đó là những mâu thuẫn mà gia đ nh nào c ng có. Chị H nhận thấy do tính chất công việc và cá tính sinh hoạt không điều độ, không phù hợp với gia đ nh của anh T nên chị H đề nghị anh T có thể ra ngoài sinh sống một thời gian để ổn định cuộc sống cho các con. Sau những mâu thuẫn đó vợ ch ng c ng đã tự ng i bàn bạc đưa ra cách giải quyết nội bộ chứ chưa phải nhờ đến gia đ nh, bạn bè và người thân hòa giải. Tại phiên tòa, chị H xác định mẫu thuẫn vợ ch ng c ng thẳng từ tháng 02 n m 2020 và vợ ch ng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị nhận thấy t nh cảm vợ ch ng không còn, anh T xin ly hôn chị hoàn toàn nhất trí.
- Về con chung: Vợ ch ng có 02 con chung là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 30/12/2007 và cháu Nguyễn Hùng P, sinh ngày 14/7/2014. Tại phiên tòa, chị H mong muốn được nuôi dưỡng cả hai con chung, nếu không được th chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hùng P, giao cháu Nguyễn Mạnh H1 cho anh T nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về con nuôi, con riêng: Vợ ch ng không có, hiện chị H không có thai nghén g .
- Về tài sản và công nợ: Chị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung và công nợ chung của vợ ch ng.
* Nguyện vọng của cháu H1: Nếu bố mẹ ly hôn cháu Nguyễn Mạnh H1 có nguyện vọng được ở với mẹ v đã quen được mẹ ch m sóc.
* Quan điểm của chính quyền địa phương: Đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh T và chị H theo quy định pháp luật. Anh T và chị H có 02 con chung, khi ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng ch m sóc con chung theo quy định pháp luật trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cháu.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
- Anh T đề nghị giải quyết ly hôn giữa anh và chị H; về con chung anh có nguyện vọng nuôi dưỡng một con chung, nếu chị H đề nghị nuôi cháu P th anh xin nuôi cháu H1, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; về tài sản, công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chị H c ng nhất trí ly hôn; về con chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung, nếu không được th chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hùng P, giao cháu Nguyễn Mạnh H1 cho anh T nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị; về tài sản công nợ c ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm Phán, Hội đ ng xét xử, những người tham gia tố tụng, ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như: thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng tr nh tự, thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đ ng xét xử và Thư lý tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay Hội đ ng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của m nh đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét, quyết định:
Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 68; 144; 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015.
Áp dụng các Điều 51; 54; 55; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đ nh n m 2014.
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn V n T. Xử công nhận thuận t nh ly hôn giữa anh Nguyễn V n T và chị Phạm Thị Thu H.
Về con chung: Giao chị Phạm Thị Thu H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, ch m sóc, giáo dục con chung của vợ ch ng là cháu Nguyễn Hùng P, sinh ngày 14/7/2014; giao anh Nguyễn V n T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, ch m sóc, giáo dục con chung của vợ ch ng là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 30/12/2007 cho đến khi cả hai con đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập được. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Về án phí ly hôn: Anh T và chị H phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đ ng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Phạm Thị Thu H có hộ khẩu thường trú tại: Tổ 8, phường THĐ, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. C n cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự th vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa anh Nguyễn V n T và chị Phạm Thị Thu H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Về hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn V n T và chị Phạm Thị Thu H là hoàn toàn tự nguyện, có đ ng ký kết hôn tại UBND xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên (nay là thị xã Duy Tiên), tỉnh Hà Nam ngày 22 tháng 11 n m 2006 đảm bảo tr nh tự, thủ tục kết hôn được Luật Hôn nhân và gia đ nh n m 2014 bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn V n T tòa thấy: Sau khi kết hôn anh T và chị H đã có thời gian sống hạnh phúc, gia đ nh đầm ấm, vợ ch ng thương yêu và cùng nhau vun đắp xây dựng gia đ nh. Những mâu thuẫn, cãi vã có xảy ra nhưng cả hai đều ý thức được việc vợ ch ng c ng thẳng sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đ nh nên đã tự hòa giải nhiều lần để cuộc sống hôn nhân kéo dài được đến nay. Tuy nhiên việc anh, chị sống với nhau chỉ là duy tr hôn nhân chứ thực chất t nh cảm vợ ch ng đã không còn dành cho nhau nữa, cả anh T và chị H đều xác định mẫu thuẫn c ng thẳng từ đầu n m 2020 và vợ ch ng sống ly thân từ đó đến nay. Tại phiên tòa hôm nay, cả anh T và chị H đều xác định t nh cảm vợ ch ng không còn, anh T xin ly hôn, chị H c ng thuận t nh ly hôn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc giải quyết ly hôn để giải phóng cho nhau là giải pháp cả anh T và chị H đều lựa chọn. Do vậy Hội đ ng xét xử áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đ nh n m 2014 xử công nhận thuận t nh ly hôn giữa anh Nguyễn V n T và chị Phạm Thị Thu H.
Về con chung: Vợ ch ng có 02 con chung. Khi ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng ch m sóc một con chung và để chị H nuôi dưỡng ch m sóc một con chung, anh T không yêu cầu chị H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Chị H muốn được nuôi dưỡng ch m sóc cả hai con chung, nếu không th chị đề nghị được nuôi cháu P v cháu còn nhỏ cần được sự ch m sóc của chị. Xét thấy nguyện vọng được nuôi dưỡng và ch m sóc con chung của anh T và chị H là chính đáng, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự đối với con chung. Vì vậy cần giao cho anh T và chị H mỗi người nuôi dưỡng và ch m sóc một con chung. Cháu P còn nhỏ cần sự ch m sóc của mẹ hơn, nên cần giao cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, ch m sóc cháu P và giao anh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, ch m sóc cháu Nguyễn Mạnh H1 là phù hợp pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Cả anh T và chị H đều có khả n ng lao động, đều có ngu n thu nhập, anh T và chị H mỗi người nuôi dưỡng một con chung. Do vậy, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào là phù hợp với thực tế và pháp luật.
Về tài sản và công nợ: Anh T và chị H không đề nghị tòa án giải quyết nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh T và chị H phải nộp theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- C n cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 143; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- C n cứ vào các Điều 51; 54; 55; 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đ nh n m 2014.
- C n cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.
- C n cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Xử công nhận thuận t nh ly hôn giữa anh Nguyễn V n T và chị Phạm Thị Thu H.
2/ Về con chung: Giao anh Nguyễn V n T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, ch m sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 30/12/2007; giao chị Phạm Thị Thu H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, ch m sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Hùng P, sinh ngày 14/7/2014 cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ th m nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc th m nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, ch m sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con th người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền th m nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đ nh không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc th m nom, ch m sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3/ Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh T và chị H mỗi người phải nộp 150.000đ (một tr m n m mươi ngh n đ ng). Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp theo biên lai số AA/2015/0004547 ngày 23/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý. Anh T được nhận lại 150.000 đ ng.
Quyền kháng cáo đối với bản án: Anh T, chị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7; 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Chi cục THA DS thành phố Phủ Lý; - UBND xã BT, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; - Các đương sự; - Lưu h sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đ Nguyễn Thị Xuyên |