- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Huỳnh Văn Út - Huỳnh Chí Dũng"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn U
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2020/DS-PT Ngày 03/3/2020 V/v tranh chấp di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Loan
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Việt Trung
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2020/TLPT-DS ngày 09 tháng 01 năm 2020 về việc: Tranh chấp di sản thừa kế.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 190/2019/DS-ST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn U, sinh năm 1955 (có mặt).
Địa chỉ: Số 277, Lý T, khóm 2, phường 6, thành phố C, tỉnh C ..
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thế Song, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Chí D1, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 22, Trần Quang Khải, khóm 5, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1957 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 277, Lý T, khóm 2, phường 6, thành phố C, tỉnh C ..
2/ Bà Huỳnh Thị D2, sinh năm 1957 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 4, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
3/ Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 4, phường Tân Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
4/ Bà Huỳnh Thị Kim X, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh C ..
5/ Bà Huỳnh Thị Kim C1, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 4, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
6/ Ông Huỳnh Chí T, sinh năm: 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 2, phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
7/ Bà Huỳnh Kim C2 (vắng mặt).
Địa chỉ: Xã T, huyện C, tỉnh C ..
Người kháng cáo của ông Huỳnh Văn U là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, ông Huỳnh Văn U trình bày: Cha mẹ ông là cụ Huỳnh Văn R và cụ Phan Thị L có tất cả 06 người con gồm bà Huỳnh Thị L, ông Huỳnh Văn C, ông Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn Q, ông Huỳnh Văn U, bà Huỳnh Thị M. Cụ R qua đời năm 1973 và cụ L qua đời năm 1998, bà L qua đời năm 1996, bà L có một người con tên Huỳnh Thị D2, ông Cự qua đời năm 1974, ông Cự có 06 người con là Huỳnh Kim C2, Huỳnh Chí D1, Huỳnh Kim H, Huỳnh Thị Kim X, Huỳnh Thị Kim C1, Huỳnh Chí T. Ông Nhuận qua đời năm 1971, ông Quyền qua đời năm 1973, ông Nhuận và ông Quyền trước khi qua đời đều không có con.
Khi cụ R và cụ L qua đời đã để lại các tài sản sau: Căn nhà và đất tọa lạc tại số 277, Lý Thường Kiệt, khóm 2, phường 6, thành phố Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 298, được Sở Xây dựng tỉnh Minh Hải nay là tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/5/1990 diện tích 986m2, phần đất này hiện nay còn lại 481,3m2. Khi còn sống cụ L có làm giấy ủy quyền cho ông U để ông hưởng trọn toàn bộ tài sản trên theo giấy ủy quyền ngày 17/10/1991 có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường 6 xác nhận ngày 18/10/1991. Từ giấy ủy quyền trên ông U tiến hành kê khai đăng ký vào năm 1999. Khi ông U tiến hành làm thủ tục tiếp theo thì ông Huỳnh Chí D1 và con bà Huỳnh Thị Lượm đứng ra ngăn cản, nội bộ thân tộc không giải quyết được. Ngày 26/7/2018, ông U có yêu cầu phường giải quyết nhưng không thành.
Nay ông U yêu cầu Tòa án công nhận phần nhà và đất diện tích 481,3m2 theo đo đạc thực tế diện tích còn lại là 385,2m2 đất tọa lạc tại số 277, Lý Thường Kiệt, khóm 2, phường 6, thành phố Cà Mau thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông U.
Bị đơn, ông Huỳnh Chí D1 trình bày: Ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu của chú ông là ông Huỳnh Văn U, giấy ủy quyền của bà nội ông là cụ Phan Thị Lang là giấy do ông U tự làm vì thời điểm tháng 10/1991 cụ Phan Thị Lang bị bệnh nặng, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đề nghị Tòa án tiến hành xác minh vấn đề này. Ông U định bán phần đất của ông bà trong khi trên đất có mồ mã, nên việc ông U định bán thì thân tộc không đồng ý giao phần đất cho ông U quản lý, vì ông U đã bỏ đi từ thời còn trai trẻ không thường xuyên cư trú trên đất, không chăm sóc cho bà nội ông lúc tuổi già. Ông xác định ông không yêu cầu chia thừa kế nhưng ông cũng không đồng ý xác lập toàn bộ phần đất trên do ông U đứng tên quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị M trình bày: Bà đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với căn nhà của bà đang cất trên phần đất, bà và ông U sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, bà không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị D2, bà Huỳnh Kim Hoàng, bà Huỳnh Thị Kim X: Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông U và đề nghị Tòa án xác minh giấy ủy quyền của cụ L cho ông U phần đất trên là thật hay giả.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Kim C1 trình bày: Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông U và đề nghị Tòa án xác minh giấy ủy quyền của cụ L cho ông U. Từ trước đến nay các anh em chưa yêu cầu chia thừa kế đối với di sản do ông bà để lại nhưng nếu ông U muốn quản lý phần đất trên thì bà sẽ yêu cầu chia thừa kế thành vụ án khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Chí T trình bày: Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông U và đề nghị Tòa án xác minh giấy ủy quyền của cụ L cho ông U có đúng sự thật không. Ông U muốn quản lý toàn bộ phần đất là để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sang bán toàn bộ phần đất, trên đất hiện tại có 07 ngôi mộ của ông bà. Nếu chấp nhận cho ông U chuyển nhượng toàn bộ phần đất trên thì 07 ngôi mộ của ông bà sẽ không có chỗ di dời. Từ trước đến nay các anh em chưa yêu cầu chia thừa kế đối với di sản do ông bà để lại nhưng nếu ông U muốn quản lý phần đất trên thì ông sẽ yêu cầu chia thừa kế thành vụ án khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Chị Huỳnh Kim C2 trình bày: Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông U và đề nghị Tòa án xác minh giấy ủy quyền của cụ L cho ông U.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 190/2019/DS-ST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn U về việc yêu cầu công nhận phần đất diện tích 481,3m2, theo đo đạc thực tế diện tích còn lại là 385,2m2, đất tọa lạc tại số 277, Lý Thường Kiệt, khóm 2, phường 6, thành phố Cà Mau thuộc quyền quản lý, sử dụng và định đoạt của ông.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 18/11/2019 nguyên đơn là ông Huỳnh Văn U kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông U giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và tranh luận cho rằng phần đất tranh chấp hiện nay do bà M đang quản lý, sử dụng, các anh em của ông hiện nay đã qua đời chỉ còn ông và bà M, nhưng các cháu ông ngăn cản, không đồng ý ký tên giấy tờ để cho ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khi giấy ủy quyền của mẹ ông đã ủy quyền giao phần đất cho ông từ năm 1991 đến nay, mặc dù hiện nay bản gốc đã bị thấc lạc chỉ còn bản phô tô nhưng bà M thừa nhận là đất này mẹ ông đã ủy quyền cho ông nên ông yêu cầu Tòa án công nhận để ông được đứng tên quyền sử dụng đất.
Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Huỳnh Văn U, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo giấy ủy quyền ngày 17/10/1991 có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường xác nhận ngày 18/10/1991, ông U cho rằng đã được mẹ ông U là cụ L ủy quyền giao toàn bộ phần đất của cụ L cho ông U nhưng phía bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là con của ông Huỳnh Văn C và bà Huỳnh Thị L không thừa nhận việc cụ L có lăn tay vào giấy ủy quyền cho ông U toàn bộ phần đất của cụ L. Tại hồ sơ, ông U cung cấp cho Tòa án giấy ủy quyền bản phô tô, không có bản gốc nên bản phô tô không có cơ sở để Tòa án giám định dấu lăn tay, mặc dù theo giấy ủy quyền có ông Bé là chính quyền địa phương là người ký tên xác nhận vào năm 1991, hiện nay ông Bé cũng thừa nhận chữ ký trong giấy ủy quyền là của ông Bé, tuy nhiên chữ ký của ông Bé cũng là chữ ký phô tô nên cũng không có cơ sở xác định có phải chữ ký đó đã ký đúng vào giấy ủy quyền do cụ L đã lăn tay vào năm 1991 hay không, mặc khác ông U cho rằng được cụ L ủy quyền giao đất cho ông từ năm 1991 nhưng đến nay ông U không trực tiếp quản lý sử dụng đất, ông U cũng không làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp hiện nay do bà M là người trực tiếp ở và quản lý mồ mã, giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện nay vẫn do cụ L đứng tên quyền sở hữu theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 298, được Sở xây dựng tỉnh Minh Hải nay là tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/5/1990 diện tích 986m2 do ông U là người giữ giấy tờ bản gốc. Tại phiên tòa ông U cho rằng cụ R qua đời từ năm 1973 nhưng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và đất cấp cho cụ L vẫn để tên cụ R là không hợp pháp trong khi đó ông U và cụ L là người quản lý và sử dụng nhà đất. Xét thấy giấy tờ nhà đất do ông U là người quản lý nhưng ông U không có ý kiến gì từ khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và đất từ năm 1990, hiện nay ông U cho rằng việc cấp giấy tờ không hợp pháp là không có cơ sở chấp nhận.
Hiện nay, ông U và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ L không có yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật mà ông U yêu cầu công nhận phần đất cho ông U theo giấy tặng cho đất ngày 17/10/1991 với diện tích trên giấy là 481,3m2 theo đo đạc thực tế diện tích còn lại là 385,2m2 là không có cơ sở chấp nhận. Do đó bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông U là có cơ sở.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông U không có chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông U.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông U nên ông U phải chịu án phí theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn U
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 190/2019/DS-ST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn U về việc yêu cầu công nhận phần đất diện tích là 385,2m2, đất tọa lạc tại số 277, Lý Thường Kiệt, khóm 2, phường 6, thành phố Cà Mau thuộc quyền quản lý, sử dụng và định đoạt theo giấy ủy quyền ngày 17/10/1991.
Về chi phí đo đạc ông Huỳnh Văn U phải chịu số tiền 5.450.000 đồng, ngày 13/8/2019 ông U đã nộp xong.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông U phải nộp 300.000 đồng, ngày 03/12/2018, ông U có nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0001666 được chuyển thu.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn U là người cao tuổi nên được miễn nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Phương Loan |