- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo B pham tội mua bán ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Quang B1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt tù
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 33/2019/HSST Ngày 07-05-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tòng.
Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Sang;
Bà Phạm Hồng Thiêm.
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễ n Công Khuông- Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễ n Văn Ngọ c- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh
Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 04 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:
Vũ Quang B1, sinh ngày 24 tháng 06 năm 1988; nơi sinh: Thôn H1, xã T1, huyện
T2, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H1, xã T1, huyện T2, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên bố: Vũ Quang M1, họ tên mẹ: Phạm Thị X1; họ tên vợ: Lê Thị Hồ ng T3; có 01 con sinh năm 2012; Nhân thân: Ngày 27-04-2015, bị cáo bị xử phạt 06 (Sáu) tháng tù cho hưở ng á n treo về tội “Đá nh bạ c” . Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 12 do Công an huyện Thái Thụy lập ngày 15-01-2019. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15-01-2019; bị tạm giam từ ngày 18-01-2019; hiện bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ thuộc Công an huyện Thái Thụy, trích xuất, có mặt.
-Người làm chứng: Anh Vũ Đì nh T 4, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn H3,
xã T5, huyện T2, tỉnh Thái Bình; Vắ ng mặt.
-Người chứng kiến:
+Ông Đặng Văn L1, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn Đ1, xã T6, huyện T2,
tỉnh Thái Bình. Vắ ng mặt.
+Ông Lê Đứ c H 4, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn Đ1, xã T6, huyện T2,
tỉnh Thái Bình. Vắ ng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ ngày 15-01-2019, tại đoạn đường thuộc địa phận thôn Đ1, xã T6;
tổ công tác Công an huyện T2- Công an xã T6 đang làm nhiệm vụ tuần tra đã bắt quả tang bị cáo bán ma túy cho anh T4. Qua kiểm tra đã phát hiện và thu giữ từ anh T4: 02 gói chứa chất bột màu trắng dạng cục. Kiểm tra người bị cáo, tổ công tác phát hiện và thu giữ số tiền 200.000,đồng. Anh T4 và bị cáo đều trình bày: Đó là tiền và ma tú y mà bị cáo và anh T4 vừ a mua bán. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; niêm phong vật chứng. Người mua ma túy là anh T4 xác định: Hồ i 09 giờ 00 ngày 15- 01- 2019, anh gọi điện cho bị cáo hỏi mua ma túy về sử dụng. Bị cáo đồng ý và hẹn gặp anh tại khu vự c chợ Đ1. Khi gặp nhau, bị cáo đã bán cho anh 02 gói ma túy là Heroine với giá200.000đồng. Việc mua bán vừa xong thì bị Công an bắt quả tang; thu giữ vật chứng vụ án là ma túy và tiề n. Ông L1, ông H4 đã chứng kiến công an thu giữ 02 gói ma túy và 200.000đồ ng từ anh T4 và bị cáo- cả hai đều khai nhận đó là tiề n và ma tú y vừ a mua bá n vớ i nhau. Theo kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Thái Bình: Mẫu vật thu giữ gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng là 0,0123gam.
Các chứ ng cứ chứ ng minh: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận
giám định; Biên bản xác minh tại Công an xã T6; lời khai của người mua ma túy là anh Vũ Đì nh T4; của người chứng kiến là ông Đặ ng Văn L 1, ông Lê Đứ c H4 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vậ t chứng: Các vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy gồ m: 0,0083gam ma tú y loạ iHeroine; 01 điệ n thoạ i di động nhãn hiệu MOBELL và 200.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày: Bị cáo nghiện ma túy nên ngày 14-01-2019, bị cáo
thuê xe ôm đế n khu vự c ngã tư Môi thuộ c đị a phậ n huyệ n Q1, tỉnh Thái Bìnhmua 02 gói ma túy giá 200.000đồng. Bị cáo đem số ma túy đó về nhà, đã sử dụ ng mộ t phầ n nhỏ, số cò n lạ i cấ t trong tú i quầ n đang mă. Hồi 09 giờ 30 phút ngày 15-01-2019, khị c anh T4 gọi điện hỏi mua ma túy thì bị cáo đồng ý bán, đã hẹn anh T 4 đến khu vự c chợ Đ 1. Tại đây, bị cáo đã bán cho anh T4: 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Ngay sau đó, Công an bắt quả tang; thu giữ tiề n và ma túy.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKSTT ngày 03- 04- 2019, Viện Kiểm sát nhân dân
huyện Thái Thụy truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Luận tội của Kiểm sát viên: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm
truy tố bị cáo; căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điểm a, điểm b, điể m c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điể m a, b khoả n2 Điề u106Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sư. Kiểm sát viên đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Muạ bán trái phép chất ma tuý”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm đế n 02 (Hai) năm06 (Sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy; tịch thu sung công số tiền 200.000đồng và 01 chiế c điệ n thoa.̣ i
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá
trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ
thẩm, bị cáo đều trình bày: Hồi 11 giờ ngày 15-01-2019, tại đoạn đường thuộc địa phận thôn Đ1, xã T6; bị cáo đã bán 02 gói ma túy là Heroine có khối lượng 0,0123gam cho anh T4. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với cá c chứ ng cứ khá c của vụ án. Như vậy, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo B1 là người đã thực hiện hành vi: Bán trái phép 0,0123gam Heroine cho ngườ i khá c. Heroine là chất ma túy được quy định trong Nghị định số 73/2018/NĐ- CP Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chấ t ma tú y ngày 15/5/2018 của Chính phủ nên hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý chất ma túy. Bị cáo là ngườ i trên18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điều luật trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07
năm…”.
Bị cáo là người có nhân thân xấ u , lại sử dụng ma túy . Mặc dù biết tá c hạ i
của ma túy, biế t việ c mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị c áo vẫn bán trái phép ma túy. Hành vi củ a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự; cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt tù để giáo dục bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Theo các tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, cũng không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
-Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ
-Bị cáo thành khẩn khai báo, có thời gian tham gia Quân độinên được hưởng tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Các vật chứng hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy
theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04- 04- 2019 gồm:
-0,0123gam ma tú y, loại Heroine; sau khi lấy mẫu giám định còn 0,0083gam.
Đây là vật cấm lưu hành, cần áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
-Số tiền 200.000đồng do bị cáo phạm tội mà có; cần áp dụng điểm b Khoản 1
Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
-01 chiế c điệ n thoạ idi động nhãn hiệu MOBELL là tài sản của bị cáo dùng
trong sinh hoạt hàng ngày, cần áp dụng khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án.
. Về các vấn đề khác của vụ án:
-Ngườ i mua 0,0123gam ma tú y loạ i Heroine từ bị cá o là anh Vũ Đì nh T 4.
Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đố i vớ i anh T4.
- Bị cáo trình bày: Ngày 14- 01- 2019, bị cáo thuê xe ôm đến khu vực ngã Tư Môi mua ma tú ycủa người đàn ông; ngày15- 01- 2019, bị cáo thuê xe ôm đến khu vực chợ Đ1 nhưng bị cáo không biết tên, địa chỉ người bán ma tú y, không biế t tên đị a chỉ củ a hai ngườ i xe ôm. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác định về hai ngườ i xe ôm, về người bán ma túy cho bị cáo.
-Anh Vũ Đình T 4 trình bày: Ngày 15-01- 2019, anh mượ n điệ n thoạ i củ a
ngườ i xe ôm nhưng anh không biế t tên, địa chỉ người này; sau đó anh đã trả điệ n thoại cho người đó . Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác định về người xe ôm và chiếc điện thoại này.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000,đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo Vũ Quang B1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, khoản2 Điều 51; Điều
50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
-Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15- 01-
2019.
-Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình
sự; Khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vật chứng hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy
theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04- 04- 2019 được xử lý như sau:
-Tịch thu tiêu hủy 0,0083gam ma túy là Heroine;
-Tịch thu từ bị cáo số tiền 200.000đồng nộp ngân sách nhà nước;
-Trả lại bị cáo01 chiế c điệ n thoạ idi động nhãn hiệu MOBELL nhưng quả n lý
để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều
21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000,đồng án hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ
ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Bị cáo; -VKSND huyện Thái Thụy; -VKSND tỉnh Thái Bình; -Cơ quan điều tra-Công an huyện Thái Thụy; -Cơ quan thi hành án hình sự; -Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy; -Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tòng |