vanban.org

Bản án 33/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (16/12/2018). Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2019/HS-ST
Ngày 24-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:1.Ông Trần Văn Luyện.

2. Ông Nguyễn Văn Đương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thuỳ Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Nhà văn hoá xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1985 tại xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 5, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Hưởng, sinh năm 1958; con bà: Lê Thị Oanh (đã chết); vợ: Trần Thị Tam, sinh năm 1987; con: có 03 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2018 đến nay, hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 10 giờ ngày 14/12/2018, Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985, trú tại: Xóm 5, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xin ngồi xe của người qua đường ra khu vực trại lợn Thái Dương, thuộc địa phận xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An với mục đích đi chơi và tìm chim để săn bắt. Khi đến khu vực trại lợn Thái Dương, Đ gặp một người đàn ông không quen biết đang sử dụng ma túy hồng phiến. Do bản thân bị nghiện với mục đích mua ma túy về sử dụng, Đ đến gặp và hỏi “anh có không, để cho em một ít” ý là anh có ma túy không, bán cho em một ít thì người đó trả lời “lấy hàng gì?” tức là mua ma túy gì?, Đ nói “anh có đá không?”, người đàn ông trả lời “có, lấy mấy” thì Đ trả lời “lấy cho em tám triệu” tức là bán cho em 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) tiền ma túy đá và người đàn ông Đ ý. Sau đó, Đ xin nhờ xe người đi đường quay về nhà mình tại xóm 5, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An lấy tiền rồi nhờ xe người đi đường quay lại chỗ cũ gặp người đàn ông nói trên để mua ma túy. Sau khi Đ đưa tiền cho người đàn ông thì người đàn ông này đưa cho Đ một gói ni lông màu trắng bên trong đựng ma túy đá và 02 (hai) viên hồng phiến gói trong giấy thiếc màu trắng. Đ bỏ 02 (hai) viên hồng phiến vào túi quần và cầm gói ma túy mới mua được đi về nhà mình. Lúc về đến nhà, Đ lấy gói ma túy vừa mua bỏ vào lọ nhựa có nắp màu đỏ và cất dấu trong kho rơm ở chuồng bò của gia đình, còn 02 viên hồng phiến thì bỏ vào túi quần. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/12/2018, Đ đến nhà em trai của Đ là Nguyễn Văn Giáp (Sinh năm 1995) nhà nằm trong khuôn viên của gia đình Đ tại xóm 5, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Hiện nay Giáp hiện đang chấp hành án phạt tù, vợ Giáp về bên ngoại sống nên nhờ Đ là người quản lý, trông coi nhà cho vợ chồng Giáp. Lúc Đ đang ngồi ở gian nhà bếp của Nguyễn Văn Giáp để chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Đô Lương phát hiện và bắt quả tang (BL 20-21). Do hoảng sợ, Đ thả 01 (một) gói giấy bằng thiếc bên trong có 2 (hai) viên hồng phiến xuống đất tại vị trí Đ ngồi.

Vào lúc 13 giờ cùng ngày 16/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Đ. Qua khám xét đã thu giữ: 01 túi ni lông kích thước 15x25cm bên trong túi đựng nhiều túi ni lông kích thước khác nhau thu giữ trong phòng ngủ tại nhà ở Nguyễn Văn Giáp; 01 cuộn thiếc đã qua sử dụng thu giữ tại nhà ở của Nguyễn Văn Đ; 01 chiếc cân điện tử mi ni đã qua sử dụng thu giữ trong tủ nhựa phòng ngủ tại nhà Nguyễn Văn Đ; 01(một) hộp nhựa có nắp màu đỏ, bên trong có 01 (một) túi ni lông kích thước 7x4cm, trong túi ni lông có chứa chất tinh thể màu trắng, tại kho rơm ở chuồng bò trong nhà của Nguyễn Văn Đ; một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm một chai nhựa được gắn kết với một ống thủy tinh và một ống nhựa thu giữ tại nhà Nguyễn Văn Giáp, thuộc xóm 5, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra đã lập biên bản thu giữ số tang vật đó cùng một số đồ vật có liên quan.

Vào lúc 16 giờ, ngày 16/12/2018,

: 02 viên nén màu hồng, hình tròn, dạng viên thuốc thu giữ của Nguyễn Văn Đ có khối lượng là 0,196g (không phẩy một trăm chín sáu gam), số tinh thể màu trắng thu giữ trong hộp nhựa màu đỏ của Nguyễn Văn Đ có khối lượng là 31,632g (ba mươi mốt phẩy sáu trăm ba mươi hai gam ).

Tại bản kết luận giám định số 172/KL-PC09(MT) ngày 21/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn Đ gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) số viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn Đ có khối lượng là 0,196g (Không phẩy một trăm chín sáu gam). Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ có khối lượng là 31,632g (ba mươi mốt phẩy sáu trăm ba mươi hai gam)

- Về vật chứng vụ án: Vật chứng hiện đang bảo quản tại kho vật chứng thuộc công an huyện Đô Lương – Nghệ An gồm: 01 (một) phong bì thư màu nâu của công an huyện Đô Lương – Nghệ An kích thước 17x23 cm. Bên trong đựng vỏ giấy thiếc, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Văn Đ qua bắt quả tang. Phía sau, trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong, chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn Đ. 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn, vỏ màu trắng, nắp màu đỏ, kích thước 10x12cm. Bên trong đựng 01 (một) gói ni lông màu trắng kích thước 7x4cm, bên trong gói ni lông chứa số ma túy còn lại thu giữ của Nguyễn Văn Đ trên nắp được niêm phong dán kín bằng giấy màu trắng, trên mặt giấy có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và của đối tượng Đ. 01 (một) cuộn giấy thiếc đã qua sử dụng; 01(một) túi nilong kích thước 15x25cm, bên trong túi đựng nhiều túi ni lông kích thước khác nhau; 01 (một) phong bì thư màu nâu của Công an huyện Đô Lương – Nghệ An, kích thước 17x23cm, bên trong đựng 01 (một) cân mini đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa được gắn kết với 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-HS ngày 19/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 3 điều 249 Bộ luật hình sự năm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội Đ xét xử:

Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm b khoản 3 điều 249; điểm s, v khoản 1, 2 điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt phụ là phạt tiền cho bị cáo. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin Hội Đ xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 249 Bộ luật hình sự.

Hội Đ xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 12 giờ 00 phút ngày 16/12/2018, tại nhà Nguyễn Văn Giáp thuộc địa phận Xóm 5, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,196 gam ma túy (Methamphetamine) mục đích sử dụng thì bị bắt giữ. 13 giờ 00 phút ngày 16/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương khám xét nhà ở của Nguyễn Văn Đ thuộc địa phận Xóm 5, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thu giữ 31,632 gam ma túy (Methamphetamine) mục đích sử dụng. Hành vi của Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Đây là vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây hoang mang dao động trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, gây tâm lý bất an trong xã hội, bị cáo Đ được sinh ra trong gia đình lao động nhưng không tu chí làm ăn mà đua đòi nghiện ngập nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Bị cáo đã tàng trữ một lượng ma tuý tương đối lớn. Chính vì vậy đưa bị cáo ra xét xử công khai tại phiên toà hôm nay và lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ thực sự ăn năn hối hận. Bị cáo có thành tích xuất sắc trong học tập lao động và chiến đấu (bị cáo có thành tích vượt lũ cứu sống ba mẹ con bị lũ cuốn được UBND xã Đại Sơn tặng giấy khen). Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ nghiêm.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, nhưng qua xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo đang sống chung với mẹ và vợ, tài sản riêng không có gì đáng giá vì vậy không áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Trong vụ án này, có đối tượng khoảng 40 tuổi không rõ tên tuổi địa chỉ là người bán ma tuý cho bị cáo. Qua xác minh điều tra không xác định được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

- [6] Về vật chứng và xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì thư màu nâu của công an huyện Đô Lương – Nghệ An kích thước 17x23 cm. Bên trong đựng vỏ giấy thiếc, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Văn Đ qua bắt quả tang. Phía sau, trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong, chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn Đ. 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn, vỏ màu trắng, nắp màu đỏ, kích thước 10x12cm. Bên trong đựng 01 (một) gói ni lông màu trắng kích thước 7x4cm, bên trong gói ni lông chứa số ma túy còn lại thu giữ của Nguyễn Văn Đ trên nắp được niêm phong dán kín bằng giấy màu trắng, trên mặt giấy có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và của đối tượng Đ. 01 (một) cuộn giấy thiếc đã qua sử dụng; 01(một) túi nilong kích thước 15x25cm, bên trong túi đựng nhiều túi ni lông kích thước khác nhau; 01 (một) phong bì thư màu nâu của Công an huyện Đô Lương – Nghệ An, kích thước 17x23cm, bên trong đựng 01 (một) cân mini đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa được gắn kết với 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa.

Đây là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ

Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội; buộc bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội Đ xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (16/12/2018).

2. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư màu nâu của công an huyện Đô Lương – Nghệ An kích thước 17x23 cm. Bên trong đựng vỏ giấy thiếc, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Văn Đ qua bắt quả tang. Phía sau, trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong, chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn Đ. 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn, vỏ màu trắng, nắp màu đỏ, kích thước 10x12cm. Bên trong đựng 01 (một) gói ni lông màu trắng kích thước 7x4cm, bên trong gói ni lông chứa số ma túy còn lại thu giữ của Nguyễn Văn Đ trên nắp được niêm phong dán kín bằng giấy màu trắng, trên mặt giấy có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và của đối tượng Đ. 01 (một) cuộn giấy thiếc đã qua sử dụng; 01(một) túi nilong kích thước 15x25cm, bên trong túi đựng nhiều túi ni lông kích thước khác nhau; 01 (một) phong bì thư màu nâu của Công an huyện Đô Lương – Nghệ An, kích thước 17x23cm, bên trong đựng 01 (một) cân mini đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa được gắn kết với 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa.

(Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 Đ (Hai trăm ngàn Đ) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ