vanban.org

Bản án 33/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thạch Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Phi Hảo - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 33/2019/HS-ST
Ngày: 30 – 01 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Thành Sơn.

2/ Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Thạch Phi H, sinh năm 1997 tại tỉnh C; nơi cƣ trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh C; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Việt T, sinh năm 1969 và bà Lƣ Thị Đ, sinh năm 1975; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không có;

Bị bắt, tạm giam ngày 16/11/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: Khu phố B, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/11/2018 Đội cảnh sát điều tra về ma túy Công an thị xã T phối hợp với công an phƣờng A tuần tra trên tuyến đƣờng A, khu phố B, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện Thạch Phi H đang đi bộ trên đƣờng có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lƣợng công an phát hiện H đang cầm trên tay trái 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp) nên lập biên bản niêm phong tang vật, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và đƣa H về trụ sở Công an phƣờng A để làm việc.

Quá trình điều tra, H khai nhận: Bản thân có sử dụng ma túy. Nguồn gốc ma túy bị Công an thu giữ là do H mua ở khu vực phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng với giá 300.000 đồng của một ngƣời phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch vào ngày 15/11/2018, mục đích để sử dụng. Bị cáo đã sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu thì bị công an phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ gồm 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp).

Theo kết luận giám định số 676/MT-PC59 ngày 19/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon hàn kín gửi giám định có khối lƣợng 0,1393 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKS-TA ngày 10/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Thạch Phi H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Thạch Phi H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có ký hiệu 676/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật chứng trong vụ án nên;

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để đƣợc sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Phi H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố trƣớc Tòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/11/2018, tại khu vực đƣờng A, khu phố B, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Thạch Phi H bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã T phối hợp với công an phƣờng An Phú thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra thì phát hiện H đang cầm trên tay trái 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lƣợng 0,1393 gam, lực lƣợng công an tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, biên bản niêm phong tang vật.

Bị cáo H thừa nhận bị cáo mua số ma túy nêu trên ở khu vực đƣờng A, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng với giá 300.000 đồng của một ngƣời phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch vào ngày 15/11/2018, mục đích để sử dụng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Thạch Phi H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng bị cáo vẫn cố ý mua và cất giấu ma túy trong ngƣời nhằm mục đích sử dụng dần cho thỏa mãn cơn nghiện, hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma tuý; thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có ký hiệu 676/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy;

Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo H: Hiện không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên sẽ xử lý ở một vụ án khác khi có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Thạch Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thạch Phi H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có ký hiệu 676/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định).

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/01/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã T, tỉnh Bình Dương và Chi cục thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Bị cáo Thạch Phi H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ