- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị Thanh T - Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác p…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Thanh T phạm tội “Chứa chấp tài sản do ngư i khác phạm tội mà c ”.
| THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2019/HS-ST Ngày: 08/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Màu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thiên
Ông Bùi Văn Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Tiếm – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Duẩn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Đặng Thị Thanh T, sinh năm 1998 tại Long Xuyên, An Giang; Nơi cư trú: T 8, kh m 5, phư ng M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị Hồng H; Anh chị em ruột: có tất cả 01 ngư i; Tiền án, tiền sự: Không; Bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 27/12/2018 đến ngày 25/5/2019 tại ngoại nhưng bị cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, c mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Chị Trương Thị Cẩm N, sinh năm 1979; V ng mặt
Nơi cư trú: T 9, ấp Thành Phú, xã T, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.
2. Chị Châu Bích P, sinh năm 1978; V ng mặt
Nơi cư trú: T 5, kh m Đông Thu n, phư ng Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
3. Chị Bùi Thị Kim N, sinh năm 1990; V ng mặt
Nơi cư trú: T 11, ấp M Hòa, xã Nguyễn Văn T, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.
4. Chị Phan Thanh T, sinh năm 1984; V ng mặt
Nơi cư trú: p Đông Hòa 2, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987; V ng mặt
Nơi cư trú: T 11, ấp M Hòa, xã Nguyễn Văn T, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m t t như sau:
Vào lúc 18 gi 30 phút ngày 27/12/2018 Lực lượng cảnh sát hình sự - Công an thị xã Bình Minh đang làm nhiệm vụ bảo vệ Hội chợ thương mại tại đư ng 3/2, kh m 2, phư ng Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thì nghe tiếng truy hô “Cướp, Cướp” của anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1986, cư ngụ: xã Nguyễn Văn T, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long nên lực lượng Công an chạy đến nơi xảy ra sự việc thì thấy anh M đang b t gi Đặng Thị Thanh T cùng với 05 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, màu tr ng do T cầm trên tay.
Qua điều tra Tuyền khai nhận: Vào ngày 27/12/2018 T đi bộ t nhà ở t 8, kh m 5, phư ng M, thành phố L, tỉnh An Giang đến phà Vàm Cống để đi qua huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp chơi, lúc đứng trên phà thì T gặp ngư i phụ n tên H (không rõ địa chỉ) đến làm quen, lúc này hai ngư i n i chuyện qua lại với nhau đến khi phà gần cặp bến thì H rủ T đi đến khu vực thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long c t chức Hội chợ thương mại để tìm gi t dây chuyền của nh ng ngư i đi hội chợ bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. Khi phà cặp bến, T và H thuê một chiếc xe Honda ôm để chở đến Hội chợ thương mại gần Trung tâm hành chính thị xã Bình Minh, khi đến hội chợ thì H và T chia nhau xâm nh p vào Hội chợ c đông ngư i, lúc này T sợ bị b t nên bỏ ý định gi t dây chuyền (vì mới đi lần đầu) nên không dám gi t mà chỉ đi vòng vòng tham quan hội chợ.
Đến khoảng 18 gi 30 phút cùng ngày H và T gặp nhau tại khu vực gi a Hội chợ, thì H lấy trong ngư i ra một số sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng và màu tr ng v a gi t được đưa cho T nh cất gi dùm, T hỏi H “dây chuyền vàng ở đâu mà có” thì H trả l i “mới giật được của những người trong hội chợ, sợ giữ trong người sẽ bị bắt nên nhờ T giữ dùm”. T nghe v y đồng ý nh n gi dùm số dây chuyền trên rồi H bỏ đi, khi T v a cầm dây chuyền đi được một đoạn thì bị anh M phát hiện b t gi lại cùng với 05 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, màu tr ng và số tiền 145.000 đồng giao cho Công an l p biên bản niêm phong lại và tạm gi .
Căn cứ vào Kết lu n định giá tài sản số: 32/KL.ĐGTS ngày 20/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Minh thì:
“- Một dây chuyền TD610: 2.652.000đ/chỉ x 2,5 chỉ = 6.630.000đ.
- Một dây chuyền S925 Italy: 3.500.000đ/chỉ x 1,26 chỉ = 4.410.000đ.
- Một dây chuyền 750M Italy: 2.610.000đ/chỉ x 1,29 chỉ = 3.366.900đ.
- Một dây chuyền: 2.652.000đ/chỉ x 1,446 chỉ = 3.834.792đ.
- Một dây chuyền: 2.370.000đ/chỉ x 7,09 chỉ = 18.802.680đ.
T ng giá trị là: 37.044.372 đồng.”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSBM ngày 18/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố Đặng Thị Thanh T để xét xử về tội “Chứa chấp tài sản do ngư i khác phạm tội mà c ” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ lu t hình sự năm 2015.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo đã khai nh n hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, Điều lu t áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm h, i, s khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ lu t hình sự 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Thị Thanh T t 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù; Đồng th i xử lý v t chứng theo quy định của pháp lu t.
L i n i sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Thị Thanh T khai nh n hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. L i khai của bị cáo phù hợp với l i khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản b t ngư i phạm tội quả tang, Biên bản tiếp nh n nguồn tin về tội phạm, Biên bản khám nghiệm hiện trư ng, sơ đồ hiện trư ng, Kết lu n định giá tài sản và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 18 gi 30 phút ngày 27/12/2018 Lực lượng Cảnh sát hình sự - Công an thị xã Bình Minh đang làm nhiệm vụ bảo vệ Hội chợ thương mại ở đư ng 3/2, kh m 2, phư ng Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thì nghe tiếng truy hô “Cướp, Cướp” của anh Nguyễn Văn M nên lực lượng Công an đến nơi xảy ra sự việc thì thấy anh Minh đang b t gi Đặng Thị Thanh T, cùng với 05 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, màu tr ng do T cầm gi trên tay.
Qua điều tra Đặng Thị Thanh T th a nh n v a mới được H đưa 05 sợi dây chuyền mà H cướp gi t của nh ng ngư i trong hội chợ để T cất gi dùm, T biết rõ đây là tài sản do H phạm tội mà c nhưng vẫn đồng ý gi , khi T cầm 05 sợi dây chuyền đi được khoảng 10m thì bị ngư i dân phát hiện b t gi giao cho Cơ quan điều tra.
Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo là ngư i c
đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với l i cố ý trực tiếp, bị cáo c trình độ học vấn biết nh n thức được việc làm của mình là phạm pháp, tuy bị cáo không trực tiếp cướp gi t tài sản nhưng đã biết rõ rằng số tài sản nh n gi dùm là do ngư i khác đã cướp gi t được mà có nhưng bị cáo vẫn chứa chấp, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tr t tự công cộng và pháp lu t nhà nước ta, tạo điều kiện cho nh ng ngư i khác đi vào con đư ng phạm tội. Nghĩ cần c mức án tương xứng thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một th i gian để t p trung cải tạo giáo dục bị cáo thành ngư i công dân tốt c ích cho gia đình, xã hội và tác dụng răn đe phòng ng a chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên cần áp dụng các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Đối với ngư i phụ n tên H c rủ Tuyền đi gi t dây chuyền, nên vào hội chợ H gi t được 05 sợi dây chuyền của ngư i khác đưa cho T gi , nhưng Cơ quan điều tra chưa tìm được H nên chưa c cơ sở để xử lý về hành vi Cướp gi t tài sản của H. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng (loại dây công bộng, c mặt tròn bằng đá cẩm thạch màu xanh) không rõ ký hiệu, là của chị Trương Thị Cẩm N nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N, chị N nh n tài sản xong không c yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu tr ng, ký hiệu 750M Italy là của chị Châu Bích P nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho P, chị P nh n tài sản xong không c yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng c chín trái châu, ký hiệu TD610 là của chị Bùi Thị Kim N nên Cơ quan điều tra đã trả lại chị N, chị N nh n tài sản xong không c yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng (loại dây công đồng tiền) không c ký hiệu dài 33cm bị đứt 01 đầu là của chị Phan Thanh T nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T, chị T nh n tài sản xong không c yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Riêng 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng loại dây công đồng tiền, ký hiệu 15K L M Lan dài 20cm bị đứt 01 đầu c mặt dây chuyền ngôi sao 06 cánh ký hiệu PST là tài sản của Phan Thanh T tự nguyện giao nộp để gửi mẫu đi so sánh vết khớp với tang v t của vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Phan Thanh T xong nên không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng ký hiệu S925 Italy không xác định được bị hại nên Cơ quan điều tra đã niêm phong lại để tiếp tục điều tra làm rõ khi nào rõ sẽ xử lý sau.
- Đối với số tiền 145.000 đồng tạm gi của bị cáo T lúc b t quả tang là của cá nhân bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo T.
- Đối với 01 áo thun màu đen, c c dây kéo phía trước, hai bên phối màu đỏ tr ng; 01 quần dài bằng thun màu đen, hai bên hong đùi c phối màu đỏ tr ng và 01 áo khoác màu tr ng c n n, hai bên tay áo c một dòng ch , hai bên áo c phối màu đỏ đen là của bị cáo T mặc lúc bị b t được thu hồi để xác định đối tượng (nh n dạng) không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo T.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Thanh T phạm tội “Chứa chấp tài sản do ngư i khác phạm tội mà c ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 323 của Bộ lu t hình sự năm 2015. Các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ lu t hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị Thanh T 09 (Chín) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo bị b t đi chấp hành án và được khấu tr th i gian đã tạm gi , tạm giam trước t ngày 27/12/2018 đến ngày 25/5/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ lu t hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự năm 2015.
- Chấp nh n việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01(Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng (loại dây công bộng, c mặt tròn bằng đá cẩm thạch màu xanh) không rõ ký hiệu cho chị Trương Thị Cẩm N, chị N nh n tài sản xong không c yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Chấp nh n việc cơ quan điều tra đã trả lại 01(Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu tr ng, ký hiệu 750M Italy cho chị Châu Bích P, chị P nh n tài sản xong không c yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Chấp nh n việc cơ quan điều tra đã trả lại 01(Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng c chín trái châu, ký hiệu TD610 cho chị Bùi Thị Kim N, chị N nh n tài sản xong không c yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Chấp nh n việc cơ quan điều tra đã trả lại 01(Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng (loại dây công đồng tiền) không c ký hiệu dài 33cm bị đứt 01 đầu và 01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng loại dây công đồng tiền, ký hiệu 15K L M Lan dài 20cm bị đứt 01 đầu c mặt dây chuyền ngôi sao 06 cánh ký hiệu PST cho chị Phan Thanh T, chị T nh n tài sản xong không c yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng ký hiệu S925 Italy không xác định được bị hại nên Cơ quan điều tra đã niêm phong lại để tiếp tục điều tra làm rõ khi nào rõ sẽ xử lý sau.
- Hoàn trả cho bị cáo Đặng Thị Thanh T 145.000 đồng Một trăm bốn mươi lăm ngàn đồng tạm gi của bị cáo lúc b t quả tang.
- Hoàn trả cho bị cáo Đặng Thị Thanh T 01 áo thun màu đen, c c dây kéo phía trước, hai bên phối màu đỏ tr ng; 01 quần dài bằng thun màu đen, hai bên hong đùi c phối màu đỏ tr ng và 01 áo khoác màu tr ng c n n, hai bên tay áo c một dòng ch , hai bên áo c phối màu đỏ đen là của bị cáo T mặc lúc bị b t được thu hồi để xác định đối tượng (nh n dạng) không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho T.
(V t chứng trên do Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Bình Minh đang tạm gi theo biên bản ngày 02/7/2019 và biên lai số 001423 ngày 02/7/2019).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ lu t tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Đặng Thị Thanh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Lu t thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Lu t thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Đối với bị hại v ng mặt thì th i hạn kháng cáo được tính t ngày giao bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương, c quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKS, TAND TVL; - CA, VKS, THADS TXBM; - STP tỉnh Vĩnh Long; - Trại giam, Bị cáo, các đ/s; - Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Thiên Bùi Văn Khanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Màu THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Màu |