vanban.org

Bản án 33/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 07/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép vật liệu nổ”.

Giao bị cáo Hoàng Văn K cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 6… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn K - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép vật liệu nổ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:33/2019/HS-ST
Ngày 07 - 8 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Lương;

Ông Nguyễn Văn Biên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Ngọc Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Cúc Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2019 tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Hoàng Văn K sinh ngày 10/4/1981 tại Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hữu H và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị N sinh năm 1985 và có 02 con (lớn 11 tuổi, nhỏ 05 tuổi); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 08/3/2019 cho đến ngày 19/6/2019 thì được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị N sinh năm 1985, trú tại: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3/2019, Hoàng Văn K đến nhà chị gái ở thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì gặp một người đàn ông tên “K” (không rõ lai lịch địa chỉ). Tại đây “K” hỏi K có mua thuốc nổ đem về quê bán không, nghe vậy K đồng ý và cả 02 giao cho nhau số điện thoại để liên lạc. Đến khoảng 16 giờ ngày 07/3/2019, Khánh nhận được điện thoại của “K” bảo lên thị trấn K, huyện H để lấy thuốc nổ. Sau đó K mang theo 4.000.000đồng, 01 ba lô rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74K8-2675 chở theo con trai là Hoàng Anh T sinh năm 2008 chạy vào K, huyện H. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày “K” bảo K đến khu vực cây xăng cách tượng đài C khoảng 200m về phía thành phố Đ để lấy thuốc nổ. Khánh điều khiển xe mô tô đến địa điểm gặp “K” và 03 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ). Lúc này, “K” nói với K là giá mấy bao thuốc nổ là 3.000.000đồng, K lấy tiền trả cho “K” và bốc thuốc nổ vào ba lô đã chuẩn bị sẵn để lên giá chở hàng phía trước xe mô tô rồi điều khiển chở con trai cùng số thuốc nổ trên chạy về hướng thành phố Đ. Khi đến Trạm Cảnh sát giao thông đường C, thuộc địa phận xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang thu giữ 72kg thuốc nổ và một số tài sản khác.

Quá trình điều tra thu giữ: 03 bao gai có tổng trọng lượng 72kg thuốc nổ, 01 xe mô tô biển kiểm soát 74K8-2675, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 002818, 02 điện thoại di động, 02 ba lô.

Tại bản kết luận giám định số 301 ngày 15/3/2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Chất rắn dạng cục màu xanh xám được niêm phong trong 03 phong bì ký hiệu M1, M2, M3 gửi đến giám định có thành phần thuốc nổ Trinitrotoluen (thuốc nổ TNT) còn sử dụng được.

Tinh năng, tác dụng: Thuốc nổ Trinitrotoluen (thuốc nổ TNT) có sức công phá mạnh, thường được nhồi vào bom đạn phục vụ cho mục đích quân sự, tăng cường độ phá đất đá.

Chuyển toàn bộ số thuốc nổ còn lại sau giám định cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị xử lý theo thẩm quyền. Các vật chứng còn lại chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị chờ xủ lý theo quy định.

Cáo trạng số: 25/CT-VKS-P1 ngày 16/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị can Hoàng Văn K về tội: “Mua bán trái phép vật liệu nổ” theo điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội: “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tịch thu chuyển Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị quản lý sử dụng 71,7 kg chất nổ (còn lại sau giám định). Tịch thu tiêu hủy: 02 ba lô. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Masstel. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 74K8-2675 đây là tài sản chung của bị cáo và chị Nguyễn Thị N việc bị cáo sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội chị N không biết nên cần xem xét trả lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Qua trao đổi bằng điện thoại từ trước nên vào ngày 07/3/2019 Hoàng Văn K điều khiển xe mô tô 74K8-2675 chở theo con trai là Hoàng Anh T chạy lên thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị để gặp người đàn ông tên “K” (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 72kg thuốc nổ với giá 3.000.000đồng để đưa về Quảng Bình bán lại kiếm lời. Khi đến Trạm Cảnh sát giao thông đường C, thuộc địa phận xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Theo kết luận giám định 03 bao gai có tổng trọng lượng 72kg là thuốc nổ Trinitrotoluen (thuốc nổ TNT) còn sử dụng được. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn K đã phạm tội: “Mua bán trái phép vật liệu nổ” theo điểm a khoản 3 Điều 305 BLHS 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Đối với các đối tượng tên “K” và 03 người đàn ông đi cùng “K” quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không chứng minh được về nhân thân, lai lịch, nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

. Xét tình chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi mua bán trái phép vật liệu nổ là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự trị an; gián tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người dân. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bố bị cáo là người có công được tặng thưởng Huân chương chống Mỹ hạng 3; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có 01 con nhỏ phải đang điều trị bệnh máu ác tính (ung thư máu) tại bệnh viện TW Huế, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có trình độ học vấn thấp (01/12) là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử xưới mức thấp nhất của khung hình phạt. HĐXX thấy rằng, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng hơn nữa bản thân là người có học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, hiện tại gia đình bị cáo đang gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc điều trị bệnh cho con trong thời gian dài nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu chuyển Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị quản lý sử dụng 71,7 kg chất nổ (còn lại sau giám định) thu giữ trong vụ án. Tịch thu tiêu hủy: 02 ba lô do bị cáo sử dụng để đựng thuốc nổ. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Masstel của bị cáo do dùng vào việc liên lạc mua bán thuốc nổ. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO không sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 74K8-2675 bị cáo Hoàng Văn K sử dụng để vận chuyển chất nổ. HĐXX thầy rằng, đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bị cáo và chị Nguyễn Thị N việc bị cáo sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội chị Nguyễn Thị N không biết, đồng thời giá trị của xe mô tô không lớn và là phương tiện đi lại của cả gia đình nên cần chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát trả lại xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị N và bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

. Tiếp tục cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn K theo Lệnh số:43/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 19/7/2019 của TAND tỉnh Quảng Trị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép vật liệu nổ”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Hoàng Văn K: 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thủ thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Văn K cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, các điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS .

Tịch thu, chuyển giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị quản lý, sử dụng 71,7kg chất nổ thu giữ trong vụ án. (71,7kg chất nổ trên có tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận ngày 12/3/2019 )

* Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số Model A180, số IMEI: 355016052082978, bên trong có một sim mạng Viettel số seri: 8984048000007074222.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 ba lô màu đen nhãn hiệu Lowe Alpine; 01 ba lô màu xanh xám có quai đeo màu cam nhãn hiệu The North Face.

* Trả lại cho bị cáo:

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu trắng số Model OPPO R831K, số IMEI1: 864816020112110, số IMEI2: 864816020112102, bên trong có 01 sim điện thoại mạng Viettel số seri: 8984048000018247930.

* Trả lại cho chị Nguyễn Thị N và bị cáo Hoàng Văn K: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đỏ - bạc, dung tích xi lanh 110cm3, biển kiểm soát 74K8-2675, số khung 5C63-131582, số máy: C6308Y131582, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 002818 mang tên Hoàng Văn K biển kiểm soát 74K8-2675 cấp ngày 21/7/2008 tại Công an huyện H.

(Vật chứng trên hiện có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2019 )

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn K phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo về những nội dung liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ