- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Trần Hoàng Tuấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Trần Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2019/HS-ST Ngày: 19-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị A.
Ông Huỳnh Ngọc Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35.1/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Hồ Trần Hoàng T; sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Chung cư P, Phường H, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Hữu P và bà: Trần Ngọc H; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/7/2006 bị Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2006/HSST, ngày 15/6/2009 bị Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2009/HSST; bị giữ ngày: 21/02/2019; tạm giữ ngày: 21/02/2019; tạm giam ngày: 24/02/2019.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/02/2019, tại cổng công viên Lê Thị Riêng – địa chỉ: Đường C, Phường K, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Quận 10 tiến hành kiểm tra và thu giữ trong người Hồ Trần Hoàng T: 02 gói nylon chứa tinh thể không màu và các vật chứng khác: 01 điện thoại di động hiệu Sony, 01 điện thoại di động hiệu FPT. Vụ việc được Công an Phường 15, Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.
Tại Kết luận giám định số 599/KLGĐ-H ngày 25/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, các chữ ký ghi tên Hồ Trần Hoàng T, Trần Đức D (người chứng kiến), Vũ Quang C (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10 có khối lượng 0,4230g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Hồ Trần Hoàng T khai như sau: Số ma túy trên là do T sử dụng điện thoại di động hiệu Sony liên lạc với 01 đối tượng tên S (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua với giá 500.000 đồng tại bến xe Quận 8, để sử dụng. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2019, đối tượng tên K (không rõ lai lịch, địa chỉ, là bạn nghiện ma túy đã cùng nhau sử dụng chung) gọi điện thoại hỏi T còn ma túy không thì đến công viên Lê Thị Riêng để cùng nhau sử dụng ma túy, T đồng ý. Khi T đến công viên Lê Thị Riêng thì bị bắt giữ như đã nêu trên.
Đối với các đối tượng tên S, K (không xác định rõ lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào phát hiện, làm rõ, xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 17 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Hồ Trần Hoàng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo Hồ Trần Hoàng T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Hồ Trần Hoàng T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình; qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định về ma túy, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Hồ Trần Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, cụ thể: Bị cáo đã cất giữ trái phép: 0,4230g loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn, nên bị cáo bị truy tố và xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; ngoài ra bản thân bị cáo có quá trình nhân thân không tốt, cụ thể: Ngày 11/7/2006 bị Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 15/6/2009 bị Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, tất cả đã được xóa án tích. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương; ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách Nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về vật chứng:
Đối với 01 gói được niêm phong (bên trong có chứa ma túy ở thể rắn, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra), là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sony (Số Imei:358129074960522, số thuê bao: 0587578589), là phương tiện dùng vào việc liên lạc mua trái phép chất ma túy; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Riêng đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu FPT (Số Imei: 980020006935532, không có sim); quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội; do vậy căn cứ vào Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; kê biên lại để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Trần Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hồ Trần Hoàng T;
Xử phạt bị cáo Hồ Trần Hoàng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2019.
Phạt bổ sung bị cáo T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 gói được niêm phong (bên trong có chứa ma túy ở thể rắn, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra).
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sony (Số Imei: 358129074960522, số thuê bao: 0587578589).
- Căn cứ vào Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; kê biên lại 01 chiếc điện thoại di động hiệu FPT (Số Imei: 980020006935532, không có sim), để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo Hồ Trần Hoàng T.
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/5/2019 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc:
- Bị cáo T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thị hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - Cục Hải Quan TP.HCM; (1) - VKSND Q.10; (2) - Công an Q.10; (2) - Chi cục Thuế Q,10; (1) - Chi cục THADS Q.10; (1) - Người tham gia tố tụng;(1) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Triệu Luật |