vanban.org

Bản án 33/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 11/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng P, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Vũ Hồng P 13 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 23/3/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,177gam heroine còn lại kí hiệu P1; 01 phong bì đang niêm phong chiếc điện thoại di động tạm giữ của bị cáo; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng P, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2019/HS-ST
Ngày 11/7/2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Ngọc Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Hoán và bà Lý Thị Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La: Ông Đinh Văn Thu, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 33/2019/TLST-HS ngày 07/6/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/QĐXXSTHS ngày 02/7/2019, đối với bị cáo Vũ Hồng P, sinh ngày 27/4/1989, thường trú tại Khu 2, thị trấn Thất K, huyện Tràng Đ, tỉnh Lạng S, nghề nghiệp: lao động tự do, trình độ văn hóa 9/12, dân tộc: Kinh, giới tính: Nam tôn giáo: không, Quốc tịch: Việt Nam, con ông Vũ Minh T và bà Ngô Thị L (đã chết), vợ là Nguyễn Thị H, bị cáo có 01 con, tiền án, tiền sự: Không, nhân thân: Là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2019 đến ngày xét xử, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995, cư trú tại bản H, xã Mường T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

2. Anh Nguyễn Văn H,sinh năm 1993, cư trú tại bản H, xã Mường T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 23/3/2019 Vũ Hồng P mượn xe máy của anh Nguyễn Văn H ở bản H, xã Mường T, huyện Phù Yên để đến Trung tâm Y tế huyện Phù Yên uống thuốc điều trị nghiện ma túy Methadone, sau khi uống thuốc xong ra đến công Trung tâm y tế thì gặp 01 người đàn ông không biết tên, địa chỉ, P hỏi và nhờ mua hộ ma túy, khi người đó nhận lời P đưa 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), trong đó 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) mua ma túy, còn 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là trả tiền công. Sau khi nhận tiền người đàn ông đó đi khoảng 30 phút sau quay lại gặp P nói đã mua được ma túy và rủ P lên khu nghĩa trang xã Quang H để sử dụng, P đồng ý và cùng đi đến khu vực sân vận động huyện Phù Yên thì người đàn ông đó dừng xe lại đưa cho P 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và nói bên trong có 01 gói ma túy, P nhận ma túy và đi đến cổng Trường trung học cơ sở Võ Thị Sáu thì bị phát hiện bắt quả tang, tạm giữ người cùng vật chứng gồm 01 gói chất bột màu trắng, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 26D1-105.19, 01 chiếc điện thoại di động OPPO A83.

Cùng ngày 23/3/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La cùng với Vũ Hồng P mở niêm phong, cân tịnh khối lượng chất bột màu trắng thu được là 0,232gam, đồng thời trích lấy 0,055gam kí hiệu P gửi giám định, số ma túy còn lại là 0,177 gam kí hiệu P1.

Tại Kết luận giám định số 670 ngày 27/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định 0,055gam kí hiệu P là ma túy, loại heroine, tổng khối lượng đã thu giữ 0,232 gam là heroine.

Tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKS-PY ngày 06/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố bị can Vũ Hồng P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo khai nhận: Khoảng 9 giờ sáng ngày 23/3/2019 bị cáo mượn xe máy của anh vợ là Nguyễn Văn H để đến Trung tâm y tế huyện Phù Yên uống thuốc điều trị nghiện, sau khi uống thuốc xong bị cáo ra đến cổng Trung tâm thì gặp 01 người đàn ông vừa mới quen không biết tên, địa chỉ nhờ mua hộ ma túy để sử dụng, bị cáo đưa cho người đàn ông đó 300.000đ (Hai trăm nghìn đồng), trong đó để mua ma túy là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), còn 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là trả tiền công, sau khi nhận được ma túy trên đường đi sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy, 01 chiếc xe máy và 01 chiếc điện thoại di động.

Ngày 10/7/2019 anh Nguyễn Văn H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa vì lý do công việc, trình bày nội dung vụ án như sau: Sáng ngày 23/3/2019 có em rể là Vũ Hồng P đến mượn xe máy biển kiểm soát 26D1-105.19 để đến Trung tâm y tế huyện Phù Yên uống thuốc Methadone điều trị nghiện ma túy, việc bị cáo P đem xe đi mua ma túy anh hoàn toàn không biết, anh yêu cầu được nhận lại chiếc xe đó để phục sinh hoạt cuộc sống gia đình.

Chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị là vợ của bị cáo Vũ Hồng P, do bị cáo phải thường xuyên đến Trung tâm y tế huyện Phù Yên để uống thuốc Methadone điều trị nghiện ma túy, chị đã cho bị cáo mượn để liên lạc khi đi uống thuốc, chị yêu cầu được nhận lại chiếc điện thoại OPPO A83 đang bị tạm giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như quyết định bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Vũ Hồng P và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng P từ 12 đến 18 tháng tù, tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/3/2019 và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại 0,177 gam, 01 phong bì niêm phong chiếc điện thoại di động thu của bị cáo;

Chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết mẫu gửi giám định 0,055gam chất ma túy trong quá trình giám định;

Trả lại cho anh Nguyễn Văn H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 26D1-105.19; Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01 chiếc điện thoại di động OPPO A83.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo tranh luận tại phiên tòa: Nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện ngày 23/3/2019, lời khai của bị cáo phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định về ma túy và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cả về thời gian, địa điểm phạm tội và vật chứng của vụ án thu được.

Với những chứng cứ nêu trên, đủ cơ sở khách quan để kết luận: Bị cáo Vũ Hồng P, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

. Đối với người đàn ông mua hộ chất ma túy cho bị cáo, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã tiến hành điều tra, xác minh tại Công an thị trấn Phù Yên và Trung tâm y tế huyện Phù Yên, nhưng không có ai có đặc điểm, hình dáng như bị cáo mô tả, ngoài lời khai của bị cáo không có nguồn tin và tài liệu nào làm căn cứ để xem xét, xử lý đối với người đàn ông đó trong vụ án.

. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy để sử dụng là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã mua ma túy để sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi đơn lẻ, khối lượng chất ma túy không lớn, ngoài mục đích để sử dụng bị cáo không có mục đích khác.

. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt, tại cơ quan cảnh sát điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng.

. Về nhân thân của bị cáo: Nghiện ma túy từ năm 2015 đến nay, hiện đang uống thuốc Methadone điều trị nghiện ma túy tại Trung tâm y tế huyện Phù Yên.

. Xét đơn xin vắng mặt tại phiên tòa của anh Nguyễn Văn H là đúng quy định của pháp luật, sự vắng mặt của anh H không làm ảnh hưởng đến việc xem xét, quyết định các nội dung khác trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tình hình tội phạm về ma tuý ở địa P vẫn diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức độ, mặc dù đã được các cấp, các ngành tuyên truyền, vận động nói không với ma tuý, nhưng thực tế vẫn chưa có chuyển biến tích cực. Để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung, cần xử lý nghiêm, kịp thời đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, không có việc làm, không có thu nhập, không có tài sản. Do đó, không áp dụng phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

.Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại của bị cáo là 0,177 gam heroine kí hiệu P1, 01 chiếc phong bì đang niêm phong chiếc điện thoại di động tạm giữ của bị cáo;

Chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết 0,055 gam chất ma túy kí hiệu P trong quá trình giám định.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 26D1-105.19 của anh Nguyễn Văn H cho bị cáo mượn để đến Trung tâm y tế huyện Phù Yên uống thuốc điều trị nghiện ma túy là hoàn toàn ngay tình, việc bị cáo sử dụng tài sản cho mượn để làm P tiện thực hiện hành vi phạm tội, anh H hoàn toàn không biết. Đối với chiếc điện thoại di động OPPO A83 chị Nguyễn Thị H cho bị cáo mượn, bị cáo không sử dụng trao đổi mua bán trái phép chất ma túy, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho chị Hương theo khoản 2 Điều 47 cua Bộ luật hình sự.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí. Do đó, bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 292; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng P, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Vũ Hồng P 13 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 23/3/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,177gam heroine còn lại kí hiệu P1; 01 phong bì đang niêm phong chiếc điện thoại di động tạm giữ của bị cáo;

Chấp nhận Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã xử lý hết mẫu gửi giám định 0,055gam chất ma túy trong quá trình giám định.

Trả lại cho anh Nguyễn Văn H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA mầu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 26D1-105.19, số máy 5922777, số khung 019508;

Trả cho chị Nguyễn Thị H 01 chiếc điện thoại di động OPPO A83 vỏ màu hồng; số IMEL 1: 867609030594519, số IMEL 2: 86760903594501cùng 01 sim trong điện thoại di động.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự nơi bị cáo cư trú.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ