vanban.org

Bản án 33/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 13/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội “ Tàng trữ, vận cHển, chiếm đoạt trái phép vật liệu nổ”.

Xử phạt bị cáo Vi Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Vi Văn H 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo H - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội “ Tàng trữ, vận cHển, chiếm đoạt trái phép vật liệu nổ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H L
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33 /2019/HS-ST
Ngày 13 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN H L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Hà Bắc;

2. Ông Từ Minh Hải.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lự - Thư ký Toà án nhân dân H L, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân H L tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Văn Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân H L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm tkhai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/HSST ngày 08/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST - HS ngày 31/5/2019 đối với bị cáo:

Vi Văn H, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT, nơi ở: Thôn H, xã H, H H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn Hvà bà Đào Thị H; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo tại ngoại “có mặt”.

- Bị hại: Tty cổ phần H.

Trụ sở: Thôn H, xã H, H L, tỉnh Bắc Giang – Do ông Vũ Văn H đại diện theo ủy quyền “ vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Bàn Văn H, sinh năm 1996 “vắng mặt”.

Thôn H, xã H, H L, tỉnh Bắc Giang.

Anh Lê Văn H, sinh năm 1975 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Khu 3, phường H, thị xã H, tỉnh Quảng Ninh.

Anh Trịnh Văn H, sinh năm 1984 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn H, xã H, H T, tỉnh Bắc Giang.

Anh Vi Văn Kiên, sinh năm 1992 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn H, xã H, H H, tỉnh Quảng Ninh.

- Người làm chứng:

Anh Trần Thành C, sinh năm 1965 “vắng mặt”.

Anh Lý Chủ T, sinh năm 1981 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn Trại Lán, xã Vô Tranh, H L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tty cổ phần H được Sở Tthương tỉnh Bắc Giang cấp phép sử dụng vật liệu nổ tnghiệp để khai thác khoáng sản hầm lò. Ngày 08/11/2018, Tty cổ phần H ký hợp đồng thử việc với Vi Văn H. Sau khi ký hợp đồng H được bố trí thử việc ở lò 2, phân H khai thác 1 do anh Trịnh Văn H làm Tổ trưởng. Sáng ngày 20/11/2018, anh Bàn Văn H là thợ mìn của tổ lò được phân tđi lấy vật liệu nổ gồm có 18kg thuốc nổ và 90 kíp nổ về để khai thác. Quá trình sử dụng bị thiếu vật liệu nổ, anh H được phân tđi lấy bổ sung 06 kg thuốc nổ và 30 kíp nổ để tiếp tục khai thác trong kíp 2 của ca 1. Khoảng 13 giờ cùng ngày, anh H nhận bàn giao từ anh Lê Văn H là thủ kho của tty số vật liệu nổ gồm 06 kg thuốc nổ tnghiệp loại AD1.Φ32.200g.21 được đựng trong 03 túi, mỗi túi có 10 thỏi thuốc nổ và 30 kíp nổ điện vỏ nhôm rồi mang về bàn giao lại cho anh H. Sau khi nhận bàn giao, do trong giờ nghỉ trưa nên anh H đã cất số thuốc nổ trên vào thùng bìa cát tông, còn kíp nổ cất riêng vào thùng gỗ và để dưới gầm giường trong lán giao ca, đợi đến kíp làm việc thì lấy ra để giao cho các thợ mìn phục vụ khai thác. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi tnhân ngủ dậy ra ngoài uống nước để chuẩn bị đi làm, còn lại một mình H ở trong phòng, do đã biết trong chiếc hộp bìa cát tông kích thước (50x40x40)cm đựng thuốc nổ và chiếc thùng gỗ đựng kíp nổ đều để ở gầm giường nên H đã nảy sinh ý định lấy trộm thuốc nổ và kíp nổ về nhà để đánh cá. H lấy 01 túi thuốc nổ (mỗi túi đựng 10 thỏi thuốc nổ) và mở thùng gỗ lấy 06 kíp nổ điện vỏ nhôm rồi cho hết vào túi vải màu đen kích thước (39x29x15)cm của mình. Lúc này, do xe mô tô của H bị hỏng đèn chiếu sáng nên H đã cầm theo túi vải bên trong đựng thuốc nổ, kíp nổ vừa trộm cắp được đi bộ sang lán của anh Vi Văn Kiên là người cùng thôn và làm cùng tty hỏi mượn xe mô tô để đi về nhà. Anh Kiên đồng ý và giao cho H mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu xanh, biển kiểm soát 14K2-9144 của mình. Mượn được xe, H để túi vải bên trong đựng vật liệu nổ ở giá để đồ phía trước yên xe rồi điều khiển xe mô tô đi từ khu khai thác than để về nhà ở thôn H, xã H, H H, tỉnh Quảng Ninh. Trên đường về, H rẽ vào một quán nước ven đường để uống bia, sau khi uống bia được khoảng 30 phút, H tiếp tục điều khiển xe mô tô để đi về nhà. Khi H đi đến đoạn cua đường nhánh của Tỉnh lộ 293, thuộc địa phận thôn Trại Lán, xã Vô Tranh, H L, tỉnh Bắc Giang, do không làm chủ được tốc độ nên H đã bị ngã xuống vườn vải ở cạnh đường. Các anh Trần Thành C, và anh Lý Chủ T thấy H bị ngã xe đã bế H lên rìa đường. Do H bất tỉnh nên anh Tvà anh T xuống chỗ xe mô tô của H bị đổ tìm giấy tờ tùy thân để thông báo cho người nhà H biết, anh Tmở túi vải màu đen ở giá xe của H ra thì t hiện bên trong đựng thuốc nổ, anh Tđã báo cho Tan xã Vô Tranh, H L, tỉnh Bắc Giang về sự việc trên, đồng thời cùng mọi người đưa H đến trạm y tế xã Vô Tranh, H L để sơ cứu vết thương. Vi Văn H đã đầu thú về hành vi chiếm đoạt vật liệu nổ của Tty cổ phần H vào chiều ngày 20/11/2018.

Tại kết luận giám định số 6543/C09-P2 ngày 23/11/2018 Viện khoa học hình sự- Bộ tan kết luận: 10 thỏi hình trụ bên ngoài vỏ giấy màu nâu (05 thỏi còn nguyên, 05 thỏi bị gãy) có ký hiệu AD1.32.200g.21 bên trong chứa chất bột màu trắng ngà đều là thuốc nổ tnghiệp Amonit. Tổng khối lượng là 02kg; 06 vật hình trụ, vỏ bằng Hloại, một đầu mỗi vật liên kết với 02 đoạn dây điện vỏ màu đỏ đều là kíp nổ điện vỏ nhôm.

Bị cáo Vi Văn H trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thừa nhận H bộ hành vi phạm tội như trên.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 07/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân H L, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vi Văn H về tội “Tàng trữ, vận cHển, chiếm đoạt trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân H L thực hành quyền ttố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội “Tàng trữ, vận cHển, chiếm đoạt trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự. Áp dụng Khoản 1, Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vi Văn H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại anh Vi Văn Kiên 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xanh, biển kiểm soát 14K2-9144; Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu đen kích thước (39x29x15)cm.

Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Tan H L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân H L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn H khai nhận H bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Tan H L, lời khai của các đương sự khác, cùng H bộ các tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 20/11/208, Vi Văn H lợi dụng sơ hở, có hành vi lén lút, trộm cắp 10 thỏi thuốc nổ tnghiệp có ký hiệu AD1.32.200g.21 với tổng khối lượng là 02kg và 06 kíp nổ của Tty cổ phần H, H mang số vật liệu nổ trên đi về đến địa phận thôn Trại Lán, xã Vô Tranh, H L, tỉnh Bắc Giang thì bị tai nạn giao thông nên H đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý về vật liệu nổ của Nhà nước. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận cHển, chiếm đoạt vật liệu nổ” quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân H L đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố bị cáo được tặng huân chưng kháng chiến. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền: Phạt tiền bị cáo 10 triệu đồng để sung tquỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tty cổ phần H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu H phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xanh, biển kiểm soát 14K2-9144 là xe của anh Vi Văn Kiên, khi H mượn xe, anh Kiên không biết mượn xe để mang thuốc nổ về nhà nên cần trả lại tài sản này cho anh Kiên; Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu đen kích thước (39x29x15)cm là túi H tàng trữ thuốc nổ theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về những vấn đề khác:

Trong vụ án này, anh Vi Văn Kiên, sinh năm 1992 trú tại thôn H, xã H, H H, tỉnh Quảng Ninh đã cho H mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu xanh, biển kiểm soát 14K2-9144 dùng làm phương tiện để đi lại, anh Kiên không biết việc H chiếm đoạt vật liệu nổ của Tty cổ phần H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Kiên. Ngoài ra chiếc xe mô tô trên bị hư hỏng do H bị tai nạn, anh Kiên không đề nghị H phải bồi thường.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 305; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Đều 65 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội “ Tàng trữ, vận cHển, chiếm đoạt trái phép vật liệu nổ”.

Xử phạt bị cáo Vi Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Vi Văn H 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Vi Văn H cho UBND xã H, H H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho anh Vi Văn Kiên 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xanh, biển kiểm soát 14K2-9144. Tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu đen kích thước (39x29x15)cm.

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Vi Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử tkhai sơ thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H L;

- Tan H L;

- Chi cục THADS H LN;

- UBND xã H, HH, tỉnh Quảng Ninh;

- Bị cáo,bị hại, người liên quan.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh Nơi nhận

- TAND tỉnh Bắc Giang;

- VKSND H L;

- Tan H L;

- Chi cục THADS H LN;

- UBND xã H, HH, tỉnh Quảng Ninh;

- Bị cáo,bị hại, người liên quan.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh Nguyễn Thị Hoan Nguyễn Thị Yến Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H L;

- Tan H L;

- Chi cục THADS H LN;

- UBND xã Lan Mẫu;

- Bị cáo, người liên quan.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H L;

- Tan H L;

- Chi cục THADS H LN;

- UBND xã Tiên Hưng;

- Bị cáo, bị hại.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Từ Minh Hải – Nguyễn Thị Hoan

Nguyễn Thị Linh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H L;

- Tan H L;

- Chi cục THADS H LN;

- UBND xã Tam Dị, Cương Sơn;

- Bị cáo, bị hại.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H L;

- Tan H L;

- Chi cục THADS H LN;

- UBND xã Tam Dị, Kiến Xương;

- Bị cáo, bị hại.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hoài Mơ – Nguyễn Thị Hoan

Nguyễn Thị Linh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H L;

- Tan H L;

- Chi cục THADS H LN;

- UBND xã Tam Dị, Kiến Xương;

- Bị cáo, bị hại.

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh

Cỡ chữ