- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/8/2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2019/HS-ST Ngày 05-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quang Chương và bà Hoàng Thị Bích Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 05/11/2019, tại nhà văn hóa thôn Tả Hà 3, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T (Tên gọi khác: không) - Sinh ngày: 25 tháng 6 năm 1981 tại huyện Bảo T, tỉnh Lào Cai; Nơi đăng ký hộ khẩu và nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố số A, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc N - Sinh năm: 1939, trú tại: Tổ dân phố số A, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai và bà Đỗ Thị L (Sinh năm 1942, đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không.
Nhân thân: Trước khi bị bắt bị cáo có nhân thân tốt, chưa có án tích, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/8/2019, tạm giam ngày 08/8/2019, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Những người làm chứng:
Ông Nguyễn Đức C - Sinh năm:1967.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn N- Sinh năm: 1962; Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
Ông Nguyễn Ngọc N- Sinh năm 1939;
Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Ông Nguyễn Ngọc N - Sinh năm: 1967.
Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
Ông Nguyễn Ngọc Kế - Sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
Anh Nguyễn Văn L - Sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 02/8/2019, Công an huyện Bảo Thắng nhận được tin báo của quần chúng nhân dân và đã tiến hành kiểm tra nhà của Nguyễn Đức C tại tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi kiểm tra có Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn N và Nguyễn Ngọc T. Quá trình kiểm tra Nguyễn Ngọc T tự giác giao nộp 02 gói nhỏ nilon mầu trắng, mở ra kiểm tra bên trong thì 01 gói nilon mầu trắng chứa tinh thể mầu trắng, Nguyễn Ngọc T khai là ma túy đá; 01 gói ninlon mầu trắng còn lại chứa chất bột khô mầu trắng, Nguyễn Ngọc T khai là Heroine và khai mua cả hai loại ma túy nêu trên về sử dụng cho bản thân.
Công an huyện Bảo Thắng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan gồm: toàn bộ số ma túy, 01 điện thoại Nokia X2-00 đã cũ kèm sim điện thoại và số tiền 6.542.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2019, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24P1-6318 từ xã Sơn Hải lên thành phố Lào Cai để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại khu vực cầu Kim Tân, Nguyễn Ngọc T gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua ma túy đá, Heroine của người này. T đã đưa số tiền 1.100.000 đồng và bảo mua mỗi loại một nửa. Sau khi đưa tiền thì người đàn ông đó đưa cho Nguyễn Ngọc T 02 gói nilon mầu trắng, T nhìn và biết đó là ma túy đá và Heroine. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Ngọc T cất vào túi quần và về quán điện tử ở Sơn Hải chơi, đến 03 giờ ngày 02/8/2019 Nguyễn Ngọc T đi taxi về nhà Nguyễn Đức C ngủ nhờ. Khoảng 09 giờ sáng cùng ngày thì Công an huyện Bảo Thắng kiểm tra, Nguyễn Ngọc T đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy đã mua về để sử dụng, bị cáo khai nhận số tiền 1.100.000 đồng dùng để mua ma túy là do làm thuê mà có; đối với số tiền 6.542.000 đồng thì bị cáo khai do bố đẻ là ông Nguyễn Ngọc Nghĩa để quên ở đầu giường nên bị cáo cầm hộ.
Tại Kết luận giám định số 183/GĐMT ngày 05/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 3,79 gam chất tinh thể mầu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Methamphetamine;
1,08 gam chất bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine. Cơ quan giám định đã trích mẫu và sử dụng hết 0,22 gam từ 3,79 gam, hoàn lại cơ quan trưng cầu 3,57 gam (Methamphetamine); trích mẫu và sử dụng hết 0,11 gam từ 1,08 gam chất bột khô mầu trắng (Heroine), hoàn lại cơ quan trưng cầu 0,97 gam Heroine.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 10/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 04 năm 06 tháng đến 04 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2019; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 3,57 gam Methamphetamine và 0,97 gam Heroine còn lại sau giám định; Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã thừa nhận hành vi tàng trữ 3,79 gam Methamphetamine và 1,08 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân vì bị cáo nghiện ma túy. Ngày 02/8/2019, Nguyễn Ngọc T bị Công an huyện Bảo Thắng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật của vụ án gồm 3,79gam Methamphetamine và 1,08 gam Heroine. Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khẳng định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Ma túy huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại, gây mất trật tự an ninh, xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử thật nghiêm minh để răn đe phòng ngừa tội phạm.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Ngọc T, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mẹ đẻ của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Vì vậy cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng của vụ án:
Cơ quan giám định đã trích mẫu giám định hết 0,22 gam Methamphetamine và 0,11 gam Heroine nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; Còn lại sau giám định là 3,57 gam Methamphetamine và 0,97 gam Heroine, đây là vật chứng mà Nhà nước cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.
Đối với 01 xe môt tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn biển kiểm soát 24P1-6318 mà Nguyễn Ngọc T sử dụng đi mua ma túy ngày 01/8/2019. Quá trình điều tra xác định đây là vật chứng của vụ án mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Simacai đang giải quyết nên Công an huyện Bảo Thắng đã xử lý vật chứng bàn giao xe mô tô trên cho Công an huyện Simacai theo quy định.
Đối với chiếc điện thoại Nokia X2-00 có lắp 01 sim và số tiền 6.542.000 đồng. Quá trình điều tra xác định điện thoại thuộc sở hữu của bị cáo và số tiền trên thuộc sở hữu hợp pháp của bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Ngọc Nghĩa, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu theo quy định, đến nay không ai có ý kiến gì về vật chứng đã nhận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Hình phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là nghiêm khắc, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa thì bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/8/2019.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 3,57 gam Methamphetamine và 0,97 gam Heroine là vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định, thu giữ trong vụ án Nguyễn Ngọc T ngày 02/8/2019, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Thắng bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/9/2019.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án;
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND Bảo Thắng; - Công an Bảo Thắng (2); - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp; - Bị cáo; THA (2); - Lưu HS,TA,THS,VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |