vanban.org

Bản án 33/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/07/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thùy L1 được ly hôn anh Trương Vĩnh L2.

Về con chung: Giao cho anh Trương Vĩnh L2 nuôi dưỡng con chung là cháu Trương Quỳnh Ch, sinh ngày 31/7/2013. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Chị L1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L1 thực hiện quyền này. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thùy L1 phải nộp 300.000đ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình anh chị L1 - anh L2"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thùy L1 được ly hôn anh Trương Vĩnh L2.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2019
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Bình

2. Bà Lê Thị Minh Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Không tham gia.

Ngày 26/7/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2019/QĐXX-ST ngày 08/7/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thùy L1 - sinh năm 1990 (vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã PS, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại Nhật Bản).

Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng cho nguyên đơn chị Đỗ Thị Thùy L1 là: Bà D, sinh năm 1962, trú tại: Tập thể khu X, số nhà Y, T, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Trương Vĩnh L2 - sinh năm 1990 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã PS, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn và bản tự khai đề ngày 14/11/2018 (Đơn có xác nhận của Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Nhật Bản) nguyên đơn chị Đỗ Thị Thùy L1 trình bày: Chị và anh Trương Vĩnh L2 kết hôn ngày 09/10/2012, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng kí kết hôn tại UBND xã PS, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tìm được tiếng nói chung. Năm 2014 thì chị xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng, không thể hàn gắn, chị và anh L2 đã không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay chị vẫn đang trong thời gian lao động ở Nhật Bản theo hợp đồng. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Trương Vĩnh L2.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trương Quỳnh Ch, sinh ngày 31/7/2013. Hiện nay cháu Ch đang ở với anh L2. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu Ch cho anh L2 nuôi dưỡng, vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Do chị đang lao động ở Nhật Bản nên không thể về Việt Nam tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh L2. Vì vậy, chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh L2. Chị cũng ủy quyền cho bà D, sinh năm 1962, trú tại: Tập thể khu X, số nhà Y, T, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh nhận các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho chị và thông báo lại cho chị biết.

Bị đơn anh Trương Vĩnh L2 trình bày: Anh và chị Đỗ Thị Thùy L1 kết hôn ngày 09/10/2012, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng kí kết hôn tại UBND xã PS, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị L1 về nhà chồng làm dâu ở chung cùng gia đình chồng. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2014 thì chị L1 đi lao động Tại Nhật Bản. Thời gian đầu sang Nhật Bản thì chị L1 thường xuyên liên lạc về hỏi thăm chồng con. Năm 2016 thì vợ chồng ít liên lạc dần, nguyên nhân là do vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng tính cách không hợp nhau, sống xa nhau, không hiểu và thông cảm cho nhau. Cuối năm 2016 giữa anh và chị L1 đã không còn quan tâm đến nhau, có liên lạc chỉ vì hỏi thăm con chung. Hiện nay chị L1 vẫn đang ở Nhật Bản. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L1 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị L1 ly hôn anh, anh đồng ý ly hôn chị L1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trương Quỳnh Ch, sinh ngày 31/7/2013. Hiện nay cháu Ch đang ở với anh. Ly hôn, anh đồng ý với ý kiến chị L1 là đề nghị Tòa án giao cháu Ch cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Do anh đi làm ăn xa và do tính chất công việc nên không thể về tham gia các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị L1 và anh được. Vì vậy, anh đề nghị được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị L1 và anh.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Đỗ Thị Thùy L1, bị đơn Trương Vĩnh L2 vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 bộ luật tố tụng dân sự công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị L1; bản tự khai của anh L2, tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Đỗ Thị Thùy L1 và anh Trương Vĩnh L2 đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L1, anh L2.

. Về thẩm quyền: Chị Đỗ Thị Thùy L1 là nguyên đơn, hiện đang lao động tại Nhật Bản, có đơn xin ly hôn anh anh Trương Vĩnh L2, anh L2 có hộ khẩu thường trú tại: Thôn P, xã PS, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ Hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thùy L1 và anh Trương Vĩnh L2 kết hôn ngày 09/10/2012, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng kí kết hôn tại UBND xã PS, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Sau đó thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tìm được tiếng nói chung. Năm 2014 thì chị L1 đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Khi sang Nhật Bản thì vợ chồng lại sống xa nhau, không hiểu và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Hiện nay chị L1 và anh L2 đã không còn quan tâm đến nhau. Cả hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L1 xin ly hôn anh L2, anh L2 cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L1, anh L2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị L1 và anh L2 được ly hôn.

. Về con chung: Chị L1, anh L2 có 01 con chung là cháu Trương Quỳnh Ch, sinh ngày 31/7/2013. Hiện nay cháu Ch đang ở với anh L2. Ly hôn chị L1, anh L2 đều đồng ý để anh L2 nuôi cháu Ch và không đề nghị Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình giao cho anh L2 trực tiếp nuôi con chung là cháu Ch, vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết. Chị L1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L1 thực hiện quyền này.

. Về tài sản chung, công nợ: Chị Đỗ Thị Thùy L1 và anh Trương Vĩnh L2 đều xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thùy L1 phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị L1 đã nộp đủ.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 và khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban thương vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thùy L1 được ly hôn anh Trương Vĩnh L2.

2. Về con chung: Giao cho anh Trương Vĩnh L2 nuôi dưỡng con chung là cháu Trương Quỳnh Ch, sinh ngày 31/7/2013. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Chị L1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L1 thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thùy L1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2018/0000302 ngày 08/5/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị L1 đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Thùy L1 hiện đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Trương Vĩnh L2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ