vanban.org

Bản án 33/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T đối với anh Phan Minh N, cho chị Nguyễn Thị Kiều T ly hôn với anh Phan Minh N.

Về án phí: 1. Chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BH/2017- 0009398 ngày 07/5/2019, tại Chi cục T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T đối với anh Phan Minh N, cho chị Nguyễn Thị Kiều T ly hôn với anh Phan Minh N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:33/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2019.
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly
hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Liệt

2. Ông Nguyễn Hoàng Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Không.

Trong các ngày 05 và 21, 29 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm: 1993.

Nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Phan Minh N, sinh năm:1990.

Nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/02/2019, bản tự khai ngày 05/7/2019 của chị Nguyễn Thị Kiều T, biên bản hòa giải ngày 20/6/2019 và ngày 05/7/2019 và trong quá trình xét xử:

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày: Chị T và anh Phan Minh N tự nguyên tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 09/3/2017 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B. Từ khi chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẩn do anh N hay uống rượu, đánh đập, đuổi chị ra khỏi nhà. Từ tháng 01/2019 chị bỏ về nhà cha mẹ ruột ở xã Tân Long sống cho đến nay, trong thời gian ly thân chị và anh N không có gặp nhau để hàn gắn tình cảm.

Nay chị T không thể chung sống với anh N được nữa nên yêu cầu ly hôn với anh N. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phan Minh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 1, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh N không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của chị T, cũng như tham dự phiên họp hòa giải và phiên tòa lần 1 nên tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh N về yêu cầu khởi kiện của chị T.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày: Chị và anh N tìm hiểu nhau được khoảng nửa năm thì tổ chức đám cưới năm 2017, sau khi đám cưới vợ chồng đi thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân, vợ chồng thường xuyên mâu thuẩn về chuyện tiền bạc, anh N không tôn trọng gia đình chị, chê gia đình chị nghèo, nên thường uống rượu và kiếm chuyện đánh chị, thường khoảng 1 tháng đánh 1 lần. Đến ngày 30/01/2019 anh N đánh và đuổi chị ra khỏi nhà, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không được, chị có gọi điện yêu cầu anh N về ký tên ly hôn nhưng anh N không đồng ý. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh N, ngoài ra không có yêu cầu khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về pháp luật tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phan Minh N, hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ấp N, xã A, huyện B, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/3/2017 giữa chị T và anh N, nay chị T yêu cầu ly hôn với anh N nên phát sinh tranh chấp ly hôn. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Về việc vắng mặt bị đơn: Tại phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt lần thứ hai, Hội đồng xét xử xét thấy anh N đã được triệu tập hợp lệ đúng theo quy định, nhưng anh N vẫn vắng mặt, không có lý do. Nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn, tòa án đã tiến hành tống đạt niêm yết công khai tại nhà của anh N, căn cứ biên bản xác minh của công an xã A, anh N có đăng ký thường trú tại số 419, ấp N, xã A đi làm ăn vắng mặt tại địa phương và có đi về địa phương, nhưng anh N không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, cũng như phiên tòa, đã chứng minh được bị đơn cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh N là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định, nhưng trong quá trình chung sống anh N thường hay uống rượu, đánh đập chị T, dẫn đến cự cải, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, anh chị ly thân từ tháng 01/2019 đến nay nhưng anh chị và gia đình hai bên không tìm cách hàn gắn tình cảm. Anh N đã được Tòa án thông báo hòa giải 02 lần để tạo cơ hội cho anh chị hàn gắn tình cảm, nhưng anh N không đến, từ đó cho thấy anh N không muốn hàn gắn đoàn tụ với chị T. Tại phiên tòa chị T cương quyết ly hôn với anh N, nhận thấy hôn nhân giữa chị T và anh N mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh N là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

[4.1.] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[4.2.] Bị đơn anh Phan Minh N không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T đối với anh Phan Minh N, cho chị Nguyễn Thị Kiều T ly hôn với anh Phan Minh N.

2. Về án phí:

2.1. Chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BH/2017- 0009398 ngày 07/5/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị T không phải nộp thêm.

2.2. Anh Phan Minh N không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2019). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ