- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NĐ: Nguyễn Thị Kim P - BĐ Tăng Triệu V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim P.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2019/DS-ST Ngày 21-10-2019 “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Xuân Hoàng
Các Hội nhân dân:
1.Ông Điểu Nhót
2. Bà Võ Thị Mơ.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Luân – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tâm– Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2019/TLST-DS, ngày 15/03/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2019/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim P – có mặt;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện ĐM, tỉnh Đắk Nông.
Bị đơn: Anh Ông Tăng Triệu V – vắng mặt lần thứ 2 không lý do;
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Do chỗ quen biết ngày 17/11/2017, ông Tăng Triệu V có vay của bà Nguyễn Thị Kim P số tiền 23.208.000 đồng, thời hạn trả trong vòng 05 ngày, nếu đến thời hạn trả nợ ông V không trả số tiền gốc trên thì phải chịu tiền phạt bằng số tiền vay tức là phải trả số tiền 46.416.000 đồng. khi cho vay hai bên có lập giấy vay tiền có chữ ký của ông Tăng Triệu V. Vì vậy, bà P yêu cầu Tòa án buộc ông V trả số tiền 46.416.000 đồng. ngày 21/10/2019 bà P có đơn xin rút một phần đơn khởi kiện đối với số tiền phạt là 23.208.000 đồng nay bà chỉ yêu cầu ông V trả số tiền gốc đã vay là 23.208.000 đồng như trong giấy vay đề ngày 17/11/2017.
Bị đơn ông Tăng Triệu V vắng mặt nên không trình bày.
Tại phiên tòa, các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và về nội dung vụ án phát biểu như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc thụ lý giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt, bị đơn chấp hành không đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Qua các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Kim P khởi kiện yêu cầu ông Tăng Triệu V về kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Bị đơn có địa chỉ tại thôn A, xã Đ, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Đắk Song theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
[1.2] Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173 của BLTTDS để thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác cho đương sự. Do bị đơn vắng mặt nên tại phiên tòa ngày 27/9/2019 Hội đồng xét xử (HĐXX) đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của BLTTDS. Quyết định hoãn phiên toà có thông báo thời gian mở lại phiên toà đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai mà không có lý do. Như vậy, bị đơn tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của BLTTDS. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS.
Về nội dung tranh chấp:
Xét hợp đồng vay tiền giữa bà P và ông V là có thật, thể hiện qua giấy vay tiền ngày 17/11/2017. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện, nội dung của thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng có hiệu lực pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS thì “…2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Ông V trốn tránh và không phản đối việc vay tiền đó nên đây là những sự kiện không phải chứng minh.
[2.2] Xét yêu cầu của bà P đề nghị buộc ông V trả số tiền gốc của là 23.208.000 đồng, HĐXX thấy rằng: Ông V đã vi phạm nghĩa vụ dân sự theo 1 Điều 351 của Boojl uật dân sự (BLDS) năm 2015 “1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”.
Tại khoản 1 Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015 quy định: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.…” ông V đã vi phạm nghĩa vụ dân sự là trả tiền nên bà P yêu cầu trả số tiền nợ gốc 23.208.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.
Ngày 21/10/2019, bà Nguyễn Thị Kim P có đơn xin rút một phần yêu cầu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt vi phạm ghi trong hợp đồng là 23.208.000 đồng. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện nên căn căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của BLTTDS đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt vi phạm ghi trong hợp đồng.
Về lãi suất: Bên nguyên đơn không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 1.160.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại số 0004790 ngày 15/03/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 143; Điều 147; Điều 266; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 351; khoản 2 Điều 357; khoản 1, khoản 5 Điều 466; khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015;
Điều 26, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim P.
Buộc ông Tăng Triệu V phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim P số tiền 23.208.000 đồng (Hai mươi ba triệu hai trăm linh tám nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 244 của BLTTDS đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt vi phạm 23.208.000 đồng ghi trong hợp đồng vay đề ngày 17/11/2017.
3. Về án phí DSST: Buộc ông Tăng Triệu V phải nộp 1.160.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim P 1.160.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại số 0004790 ngày 15/03/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nh n: - TAND t nh Đ k Nông; - VKSND huyện Đ k Song; - Chi cục THA huyện Đ k Song; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM Th m phán – Ch t a phiên tòa (Đã ký) Phan Xuân Hoàng |