- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Huu X - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Hữu X phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2018/HSST Ngày: 9- 10-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Trúc và bà Ngô Thị Mai -Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 9 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2018/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Trịnh Hữu X; sinh ngày 7 tháng 5 năm 2000
Tên gọi khác: Không Nơi cư trú: SN 38, phố Tân Phong, thị trấn Triệu S, huyện Triệu S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12 Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Trịnh Hữu Ch, sinh năm 1969 và bà: Vũ Thị D, sinh năm 1976; Tiền án: Không Tiền sự: Ngày 01 tháng 9 năm 2017 bị Công an huyện Triệu Sơn xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn " Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
-Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Hữu X: Bà Hà Thị Nh, trợ giúp viên pháp lý của chi nhánh trợ giúp pháp lý số 6, thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. ( Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Nguyễn Thị Việt L( đã chết)
Người đại diện cho bị hại: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1984 Trú tại: Số 47 đường 1, khu phố 1, phường Tăng Nhơn Phú, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền của đại diện người bị hại:
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1956 ( Vắng mặt) Ông Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1968 ( Có mặt) Cùng trú tại: Thôn Đô Tr, xã Dân L, huyện Triệu S, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng: Anh Dương Minh H, sinh năm 1988 ( Vắng mặt) Trú tại: Thôn Cần L, xã Đông N, huyện Đông S, Thanh Hóa Anh Lê Văn K, sinh năm 1971( Vắng mặt) Trú tại: Xóm 5, xã Thọ V, huyện Triệu S, tỉnh Thanh Hóa Anh Vũ Đức G, sinh năm 1994 ( Vắng mặt) Trú tại: Số nhà 24, phố Tân Th, thị trấn Triệu S, tỉnh thanh Hóa. Chị Phạm Thị G, sinh năm 2003 ( Vắng mặt) Trú tại: Làng Chiềng N, xã Giao An, huyện Lang Ch, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Khoảng 14 giờ ngày 04/3/2018 Trịnh Hữu X (sinh ngày 07/5/2000 ở số nhà 38, phố Tân Ph, thị trấn Triệu S, huyện Triệu S) đang ngồi chơi ở nhà anh Trần Hữu Ph ở thôn Vĩnh Trù 1, xã An N, huyện Triệu S cùng với Phạm Thị G (sinh ngày 02/6/2003 ở thôn Chiềng N, xã Giao A, huyện Lang Ch), Nguyễn Thị Việt L (sinh ngày 30/9/2002 ở thôn Đô Tr, xã Dân L, huyện Triệu S) và Vũ Đức G (sinh năm 1994 ở số nhà 24, phố Tân Thanh, thị trấn Triệu Sơn) thì Vũ Đức G nói với Trịnh Hữu X “Lấy chìa khóa xe nơi Lệ, chở anh lên quán intenet nhà Đạt B rồi quay lại chở G và Lệ về nhà L”, X đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha biển kiểm soát 36B6-26558 của Vũ Đức G chở Giáp đến quán nét. Sau đó quay về nhà anh Trần Hữu Ph chở Phạm Thị G và Nguyễn Thị Việt L đi theo quốc lộ 47C về nhà Lệ ở thôn Đô Trang, xã Dân L, huyện Triệu S. Khi đi đến đoạn gần trường THPT Triệu Sơn I thuộc địa phận thôn Xuân Tiên, xã Dân L, huyện Triệu S, X đang điều khiển xe đi bên phải phần đường theo hướng thị trấn Triệu Sơn đi ngã tư Dân L thì quan sát thấy phía trước cùng chiều có một xe ô tô biển kiểm soát 36C-13376 do anh Dương Minh H (sinh năm 1988 ở thôn Cần Liêm, xã Đông Nam, huyện Đông Sơn) điều khiển kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 36R-00777. Do đi phía sau xe bị bụi nên Trịnh Hữu X điều khiển xe mô tô đi sang bên trái phần đường để vượt xe ô tô thì xe mô tô của X điều khiển đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 36B1-25223 đi ngược chiều do anh Lê Văn K (sinh năm 1971 ở xóm 5, xã Thọ Vực, huyện Triệu Sơn) điều khiển. Sau khi va chạm với xe mô tô của anh Lê Văn K, thì xe mô tô do Trịnh Hữu X điều khiển bị đổ trượt ngã trên đường và tiếp tục va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 36C-13376 kéo theo sơ mi rơ mooc. Hậu quả Nguyễn Thị Việt Lchết tại chỗ, Trịnh Hữu X và Phạm Thị G bị thương. Khi điều khiển xe mô tô xảy ra tai nạn, Trịnh Hữu Xchưa đủ 18 tuổi ( 17 tuổi, 9 tháng, 25 ngày) và chưa có giấy phép lái xe.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 574/GĐPY-PC54 ngày 21/3/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Các vết xây xước da, rách da, bầm tụ máu tại đầu mặt, ngực bụng, hai tay, chân trái; gãy cung trước và cung bên xương sườn từ số 2 đến số 9 bên trái; dập rách tổ chức da đầu vùng đỉnh chẩm trái; vỡ xương hộp sọ; rách màng cứng; dập não, thoát não. Nguyên nhân chết tại chỗ của Nguyễn Thị Việt L là do đa chấn thương.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 4 tháng 3 năm 2018, xác định nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường Quốc lộ 47C thuộc địa phận thôn Xuân Tiên, xã Dân L, huyện Triệu S. Mặt đường rải nhựa bằng phẳng, rộng 7m50, hai bên là khu dân cư, vạch sơn phân chia làn đường ở giữa là vạch đứt. Thời điểm khám nghiệm, hiện trường đã bị xáo trộn một phần do quá trình tham gia giao thông của các phương tiện. Tại hiện trường phát hiện và ghi nhận các dấu vết sau:
Vết số 01: Là vết màu vàng (dạng trứng vỡ) trên mặt đường, vết có chiều dài 13m, rộng 01m.
Vết số 02: Là mảnh nhựa màu đen (dạng đế giày dép) kích thước 13cm x 05cm x 3,5cm, cách đầu vết cày trượt số 03 là 2m50.
Vết số 03: Là hệ thống vết cày trượt không liên tục trên mặt đường, có chiều dài 13m80, cách đầu vết phanh ký hiệu 04 là 1m70, cuối vết kết thúc tại vị trí xe mô tô biển kiểm soát 36B6-26558, vết có chiều Nam – Bắc.
Vết số 04: Là hai vết phanh liên tục trên mặt đường dài 12m10, rộng 50cm, vết có chiều Nam – Bắc, đầu vết cách mép đường 3m70, cuối vết trùng với hàng lốp sau bên trái sơ mi rơ mooc.
Vết số 05: Là nạn nhân Nguyễn Thị Việt Lệ, nằm ngửa trên mặt đường, đầu quay hướng Đông Nam, chân quay hướng Tây Bắc, đầu nạn nhân cách trục thứ 03 (tính từ sau về trước) bên trái sơ mi rơ mooc 80cm, cách mép đường 4m10, gót chân trái cách mép đường 3m50, cách trục trước xe mô tô biển kiểm soát 36B6-26558 là 1m70. Tại vị trí nạn nhân có nhiều chất lỏng màu đỏ (dạng máu).
Vết số 06: Là xe mô tô biển kiểm soát 36B6-26558 đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng Tây Nam, đuôi xe quay hướng Đông Bắc, trục trước cách trục trước hàng lốp bên trái hàng lốp thứ ba của sơ mi rơ mooc 3m30, cách mép đường 2m7, trục sau cách mép đường 3m60.
Vết số 07: Là xe ô tô biển kiểm soát 36C-13376 kéo theo sơ mi rơ mooc dừng trên mặt đường, đầu xe quay hướng Bắc, đuôi xe quay hướng Nam.
Tại bản kết luận giám định số 724/PC54 ngày 31/3/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận về điểm va chạm đầu tiên giữa các phương tiện và vị trí xảy ra va chạm trên mặt đường như sau:
1. Va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36B6-26558 với xe mô tô biển kiểm soát 36B1-25223:
- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước tay nắm bên trái xe mô tô biển kiểm soát 36B6-26558 với mặt trước ngoài góc trên giỏ đèo hàng phía sau bên trái xe mô tô biển kiểm soát 36B1-25223.
- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cày trượt số 03, thuộc phần đường bên trái hướng đi từ thị trấn Triệu Sơn đi ngã tư Dân Lực.
2. Va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36B6-26558 với xe ô tô biển kiểm soát 36C-13376 kéo theo sơ mi rơ mooc:
- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là mặt ngoài bên phải tay nâng xe mô tô biển kiểm soát 36B6-26558 với mặt ngoài dưới thành bên phải rơ mooc, cách mặt trước ba đờ xốc trước 11,1cm xe ô tô.
- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trên phần đường bên phải theo hướng từ thị trấn Triệu Sơn đi ngã tư Dân Lực.
3. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36B1-25223 với xe ô tô BKS 36C-133.76 kéo theo sơ mi rơ mooc.
Bản cáo trạng số 34/CT- VKS, ngày 24 tháng 8 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu S, truy tố bị cáo Trịnh Hữu X phạm tội “ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Người người đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại trình bày hiện nay gia đình đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại từ bị cáo, nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Hữu X phạm tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” . Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 bộ luật hình sự, điểm b; s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1, Điều 101; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Hữu X từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại đã nhận bồi thường, không có yêu cầu gì, nên không xét; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trịnh Hữu X hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của đại diện viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Trịnh Hữu Xuân về tội "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, mặt khác bị cáo phạm tội là do lỗi vô ý, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo đưởng hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội của bị cáo: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 4/3/2018 Trịnh Hữu x không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B5- 26558 chở Nguyễn Thị Việt L và Phạm Thị G đi trên Quốc lộ 47C về nhà Lệ ở thôn Xuân Tiên, xã Dân L, huyện Triệu S. Khi đi đến địa phận thôn Xuân T, xã Dân L, huyện Triệu S thì gặp xe ô tô biển kiểm soát 36C-13376 kéo theo sơ mi rơ mooc do anh Dương Minh H điều khiển đi phía trước cùng chiều. X điều khiển xe mô tô của mình vượt xe ô tô và tay nắm bên trái xe mô tô của X va vào giỏ đèo hàng của xe mô tô biển kiểm soát 36B1-25223 do anh Lê Văn K điều khiển đi ngược chiều làm xe của X trượt ngã trên đường, sau đó tiếp tục va chạm với xe ô tô do anh Dương Minh H điều khiển. Hậu quả chị Nguyễn Thị Việt L chết tại chỗ.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo Trịnh Hữu X là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho mọi người khi tham gia giao thông. Trong vụ án này bị cáo Trịnh Hữu X là người có lỗi hoàn toàn, bị cáo điều khiển xe mô tô chưa có giấy phép lái xe, với ý thức chủ quan, bị cáo đã điều khiển xe mô tô để tham gia giao thông và gây ra tai nạn, hậu quả làm chị Nguyễn Thị Việt L chết tại chỗ. Bị cáo vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 2 Điều 14 luật giao thông đường bộ. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện theo ủy quyền của đại diện người bị hại với tổng số tiền là 22.000.000đ ( Hai mươi hai triệu đồng); Sau khi gây tai nạn, bị cáo đầu thú; Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi ( 17 tuổi, 9 tháng, 25 ngày) nên được áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Vì vậy, Trịnh Hữu X được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b; s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự .
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tiền sự: Ngày 01/9/2017 Nguyễn Hữu X bị Công an huyện Triệu Sơn xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Về trách nhiệm hình sự: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu S, tỉnh thanh Hóa, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo Trịnh Hữu X ra khỏi đời sống xã hội.
Về vật chứng: Đối với các phương tiện liên quan đến tai nạn, sau khi tiến hành khám phương tiện cơ quan Công an đã trả lại cho các chủ phương tiện đúng quy định của pháp luật nên không xét.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của đại diện người bị hại là ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn Ng đã thỏa thuận xong phần bồi thường với bị cáo, không có yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án này, anh Dương Minh H điều khiển xe ô tô kéo theo sơ mi rơ mooc và anh Lê Văn K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B1-25223 xảy ra va chạm với xe mô tô do Trịnh Hữu X điều khiển nhưng không có lỗi nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Anh Dương Minh H đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình Nguyễn Thị Việt L 50.000.000 đồng. Đối với Lê Văn K, sau khi xảy ra tai nạn đã điều khiển xe đi khỏi hiện trường gây khó khăn cho quá trình điều tra nên Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính là phù hợp.
Việc Vũ Đức giáp cho Trịnh Hữu X (không có giấy phép lái xe) mượn xe tham gia giao thông gây tai nạn nhưng G không biết X không có giấy phép lái xe nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vũ Đức G. Đối với Phạm Thị G, bị thương tích nhưng chỉ là xây xát nhẹ, không đi điều trị và không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, khoản 2 Điều 260, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1, Điều 101, Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Trịnh Hữu X phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Xử phạt bị cáo Trịnh Hữu X 20 ( Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
-Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của đại diện người bị hại là ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn Ng đã thỏa thuận xong phần bồi thường với bị cáo, không có yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự ; khoản 1 Điều 6; Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tiểu mục 1, mục I danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo nghị quyết 326, buộc bị cáo Trịnh Hữu X phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của đại diên người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Trúc Ngô Thị Mai
Lê Thị Thủy
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thanh Hóa - VKSND huyện Triệu Sơn; - Công an huyện Triệu Sơn; - THA huyện Triệu Sơn - Bị cáo; - Người đại diện theo ủy quyền của đại diện người bị hại; - Lưu hồ sơ. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm C¸c héi thÈm nh©n d©n | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thủy ThÈm ph¸n chñ - täa phiªn tßa |