vanban.org

Bản án 33/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 20/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhất T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Nguyễn Nhất T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Nhất T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhất T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HSST
Ngày: 20-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Đình Bảo Thiện

2. Bà Trần Thị Mỹ Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 07 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận

Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2018/HSST ngày

19/6/2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐXXST-HS ngày

05/7/2018; đối với bị cáo:

NGUYỄN NHẤT T - Sinh năm 1992; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ điện cơ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Nhất T và bà Phùng Thị Trúc L; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn H, xã Đ, huyện H. Bị cáo có mặt.

-Bị hại: Anh Võ Anh T, sinh năm 1999 ( đã chết).

-Người đại diện theo pháp luật của người bị hại:

1/ Ông Võ Văn K, sinh năm 1969 (có mặt).

2/ Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1972 (có mặt) Tất cả cùng nơi cư trú: Thôn P, xã G, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng :

1/ Lê Kim A, sinh năm 1992 ( vắng mặt) Nơi cư trú: Khu phố V, thị trấn K, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2/ Nguyễn Phước L, sinh năm 1998 (vắng mặt)

3/ Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1966 (vắng mặt) Cùng nơi cư trú: Thôn X, xã Z, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Nhất T, sinh năm 1992, ở thôn H, xã Đ có Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số AU.913427 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30/4/2012. Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 15/01/2018, Nguyễn Nhất T, điều khiển xe mô tô, biển số 86B5-022.27 từ thành phố P về nhà ở xã Đ. Khi gần đến Km 1698 + 100m - Quốc lộ 1A, thuộc thôn C, xã T, Nguyễn Nhất T chỉ thấy cùng làn đường xe hỗn hợp (làn đường giữa) có xe ô tô chạy phía trước. Do vượt sai quy định và không thấy xe mô tô, biển số 86B3-052.94 do Võ Anh T, sinh năm 1999, ở thôn P, xã G điều khiển đang chạy song song bên phải và cùng làn đường với xe ô tô nên khi Nguyễn Nhất T tăng tốc độ để vượt lên bên phải xe ô tô thì tung vào lốc máy bên trái của xe mô tô, biển số 86B3-052.94. Bị tung bất ngờ từ phía sau, xe mô tô, biển số 86B3-052.94 lao về phía trước ra hướng mép đường khoảng 10m va quệt vào xe đạp điện do Lê Kim A, sinh năm 1992 ở khu phố P, thị trấn L điều khiển chạy cùng chiều. Xe mô tô, biển số 86B5-022.27, 86B3-052.94 và xe đạp điện cùng những người ngồi trên xe ngã văng xuống mặt đường trong làn xe thô sơ, Võ Anh T chết trên đường đưa đi cấp cứu, Nguyễn Nhất T và Lê Kim A bị thương nhẹ.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông được Công an huyện H khám nghiệm lúc 23 giờ 30 phút ngày 15/01/2018, tại Km 1698 + 100m - Quốc lộ 1A, thuộc thôn thôn C, xã T và chọn trụ biển báo nguy hiểm “Trẻ em” và mép đường bên phải hướng P - R làm chuẩn để đo, vẽ xác định như sau:

Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, được rải nhựa bằng phẳng, có dải phân cách chia mặt đường thành hai chiều xe chạy ngược chiều nhau, phần đường bên phải hướng P – R được chia thành ba làn đường: Làn đường xe ô tô và làn đường hỗn hợp rộng 3,50m, làn đường xe thô sơ bộ rộng 2m, có biển báo hiệu: “Trẻ em”, hai bên đường là nhà dân sinh sống.

- Vị trí số 1 là vết cày đứt quãng, dài là 17,50m, rộng 0,01m. Vị trí vết cày nằm từ làn đường hỗn hợp sang làn đường xe thô sơ, có chiều hướng P đi R, đầu vết cày cách mép đường là 2,13m, cuối vết cày tiếp xúc với gác chân bên trái phía trước xe mô tô, biển số 86B3-052.94, cách mép đường là 0,40m.

- Vị trí số 2 là vết chà đứt quãng màu đen, dài là 7,20m, rộng 0,02m, vị trí vết chà nằm trên làn đường xe thô sơ, có chiều hướng P – R. Đầu vết chà cách mép đường 1,60m, cách đầu vết cày (1) là 2,15m, cách đầu vết cày (3) là 5,50m, cuối vết chà tiếp xúc với gác chân sau bên phải xe đạp điện, cách mép đường là 0,20m.

- Vị trí số 3 là vết cày đứt quãng, dài 14,20m, rộng 0,01m. Vị trí vết cày nằm trên làn đường hỗn hợp, có chiều hướng P – R, đầu vết cày cách mép đường là 3,50m, cuối vết cày nằm dưới vỏ bánh sau của xe mô tô, biển số 86B5-022.27, cách mép đường 0,80m.

- Vị trí số 4 là xe đạp điện, sau khi tai nạn nằm ngã nghiêng về bên trái, vị trí xe nằm trên phần nên đất bên phải hướng P – R, đầu xe quay hướng Tây Nam, đuôi xe quay hướng Đông Bắc, tâm trục bánh trước và sau lần lượt cách mép đường là 0,50m và 0,20m.

- Vị trí số 5 là xe mô tô, biển số 86B3-052.94, sau tai nạn xe nằm ngã nghiêng về bên phải, vị trí xe nằm trên làn đường xe thô sơ. Đầu xe quay hướng Đông, đuôi xe quay hướng Tây, tâm trục bánh trước cách mép đường là 0,10m, tâm trục bánh sau cách mép đường là 1,55m, cách tâm trục bánh sau xe đạp điện là 8,70m.

- Vị trí số 6 là vết máu kích thước (2,2 × 0,4)m. Sau khi tai nạn hiện trường để lại vết máu nằm trên làn đường xe thô sơ, tâm cách mép đường là 0,40m, cách tâm bánh trước xe mô tô, biển số 86B3-052.94 là 2,80m.

- Vị trí số 7 là xe mô tô, biển số 86B5-022.27. Sau khi tai nạn xe được dựng đứng trên làn đường xe thô sơ, đầu xe quay hướng Tây Bắc, đuôi xe quay hướng Đông Nam. Tâm trục bánh trước cách mép đường là 1,70m, cách tâm trục bánh sau xe mô tô, biển số 86B3-052.94 là 2,80m, cách tâm vết máu là 1,70m, tâm trục bánh sau cách mép đường là 0,80m.

- Vị trí số 8 là vùng mảnh vỡ, kích thước (19 x 5)m, nằm tập trung trên làn đường xe thô sơ.

Các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông do Công an huyện H lập cùng ngày 16/01/2018, thể hiện:

Xe mô tô, biển số 86B5-022.27:

- Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn xi nhan trước bị bể vỡ hoàn toàn.

- Ốp nhựa đầu xe bị bể vỡ hoàn toàn.

- Gương chiếu hậu bên trái bị gãy rời khỏi xe.

- Tay côn bị gãy rời khỏi xe.

- Đầu tay cầm bên trái có vết bong tróc cao su, kích thước (2,5 × 2)cm.

- Ốp nhựa bên phải gần tay cầm phải có vết trầy xướt nhựa, kích thước (7 × 1)cm.

- Mũi dè trước và sau của bánh trước bị bể vỡ hoàn toàn.

- Yếm chắn gió trái và phải bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu.

- Hai bên phuộc giảm sóc bánh trước bị cong từ trước ra sau.

- Ốp nhựa hông xe bên trái có vết nứt vỡ, kích thước (5×1)cm.

- Trục trước bên phải bánh trước có vết trầy xước kim loại, kích thước (2,5 × 2)cm.

- Niềng xe bị gãy, bể, vỡ, cong móp méo so với vị trí ban đầu.

- Cụm bố thắng đĩa có vết bào mòn kim loại, kích thước (3,5 × 1)cm.

- Phần kim loại bảo vệ mũi, dè phía sau của bánh trước bị móp méo gắn vào đầu lóc máy bên phải xe.

- Bộ phận chứa dầu thắng phía trên bên phải có vết bào mòn kim loại và bám dính tạp chất màu đỏ, kích thước (5 × 0,5)cm.

- Gác chân trước bên phải bị cong hướng từ trước ra sau và có vết bào mòn kim loại, kích thước (9,5 × 3)cm.

- Thắng chân bị cong vênh có hướng từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong và có vết bào mòn kim loại, kích thước (3 × 1)cm.

- Lốp trước bị xì hơi.

- Chân chống giữa bị cong vênh theo hướng từ dưới lên trên, từ phải sang trái.

- Mặt ngoài bên phải của bộ phận giảm thanh có vết trầy xướt kim loại, kích thước (45 × 6)cm.

- Thanh nâng bên phải có vết bào mòn kim loại, kích thước (4 × 1,5)cm.

Xe mô tô, biển số 86B3-052.94:

- Đèn xi nhan phía trước bên trái bị thụt sâu vào trong so với vị trí ban đầu.

- Yếm chắn gió bên phải bị nứt vỡ và trầy xướt sơn, kích thước (2,6 × 9)cm.

- Đầu tay thắng trái có vết trầy xướt kim loại, kích thước (3 × 0,5)cm.

- Mũi dè trước có vết trầy xướt nhựa, kích thước (7 × 0,5)cm.

- Ốp nhựa bảo vệ lóc máy phía sau bên trái bị bể vỡ.

- Lóc máy phía sau bên trái bị bể vỡ, kích thước (10 × 9)cm.

- Cần khởi động máy bị cong vênh.

- Bộ phận lóc máy giáp với cần khởi động bị bể vỡ, kích thước (9 × 7)cm.

- Vị trí gắn cần khởi động có vết trầy xướt kim loại, kích thước (2 × 1)cm.

- Mép ngoài bên trái nơi để chân trước có vết trầy xướt nhựa, kích thước (20 × 3)cm.

- Chân chống trước có vết trầy xướt kim loại, kích thước (2,5 × 0,5)cm.

- Thanh kim loại nối giữa máy và ống bộ phận giảm thanh có vết trầy xướt kim loại, kích thước (1 × 1)cm.

- Đèn hãm, đèn xi nhan bên trái bị bể vỡ hoàn toàn.

- Mũi dè phía sau bị bể vỡ, kích thước (40 × 16)cm.

- Phần kim loại bảo vệ mũi dè phía sau bị bung khỏi vị trí ban đầu.

- Biển số bị bể vỡ rời khỏi xe.

Xe đạp điện:

- Giò đạp bên trái cong vênh hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào trong.

- Bàn đạp trái có vết bong tróc nhựa, kích thước (6 × 3,5)cm.

- Bàn đạp bên phải có vết trầy xướt nhựa, kích thước (5,5 × 3,5)cm.

- Gác chân sau bên trái có vết trầy xướt nhựa, kích thước (4 × 3,5)cm.

Bản kết luận giám định số 278/2018/KNGĐ-PC45 ngày 02/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận điểm va chạm các phương tiện như sau:

- Xe mô tô, biển số 86B5-022.27 có các vết va chạm: mặt nạ trước bị vỡ, giảm xóc trước bị đẩy về sau phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe mô tô, biển số 86B3-052.94; đèn chiếu sáng phía sau bị vỡ; lóc máy bên trái phía sau bị vỡ.

- Vị trí va chạm giữa xe mô tô, biển số 86B5-022.27 và xe mô tô, biển số 86B3-052.94 nằm trên làn xe hỗn hợp (làn đường giữa) của phần đường bên phải theo hướng P – R.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 56/2018/KN-TT ngày 26/02/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận, kết luận nguyên nhân chết của Võ Anh T như sau:

Chấn thương đầu, vỡ xương sọ thái dương phải, máu loãng đen chảy liên tục qua khe vỡ.

Chấn thương sọ não nặng → Tử vong.

Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: 32/2018/HP, ngày 19/01/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận, kết luận: Nồng độ Ethanol trong mẫu máu phân tích của Võ Anh T là 40mg/100ml.

Lê Kim A bị thương nhẹ, từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và không yêu cầu bồi thường.

Vật chứng thu giữ và xử lý trong vụ án:

Xe mô tô, biển số 86B5-022.27, xe mô tô, biển số 86B3-052.94, xe đạp điện cùng các giấy tờ liên quan đến việc sử dụng xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại Nguyễn Nhất T, Võ Văn K, Lê Kim A.

01giấy phép lái xe số AU 913427 mang tên Nguyễn Nhất T do Sở giao thông vân tải cấp ngày 30/5/2012, chuyển kèm hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Gia đình Nguyễn Nhất T đã bồi thường cho gia đình Võ Anh T số tiền 135.000.000 đồng. Ngay 08/02/2018, Võ Văn K và Nguyễn Thị Bích T là cha mẹ ruột của Võ Anh T có đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Nhất T.

Tại bản cáo trạng số 33/QĐ/KSĐT/VKS-HS ngày 19/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố Nguyễn Nhất T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra. Xác định Viện Kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không có thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Đại diện người bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhất T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Nhất T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Nhất T 01 giấy phép lái xe số AU 913427 mang tên Nguyễn Nhất T do Sở giao thông vân tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30/5/2012.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận, mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và đại diện theo pháp luật của người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều khoản áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nhất T khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 15/01/2018, Nguyễn Nhất T, điều khiển xe mô tô, biển số 86B5-022.27 từ thành phố P về nhà ở xã Đ. Khi gần đến Km 1698 + 100m - Quốc lộ 1A, thuộc thôn C, xã T, Nguyễn Nhất T tăng tốc độ, vượt lên bên phải xe ô tô đang chạy cùng chiều đã tung vào xe mô tô, biển số 86B3-052.94 do Võ Anh T điều khiển trên cùng làn đường hỗn hợp. Hậu quả: Võ Anh T chết trên đường đưa đi cấp cứu.

Xét, bị cáo Nguyễn Nhất T điều khiển xe mô tô khi tham gia giao thông đã vi phạm khoản 2, khoản 4 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, theo khoản 2, khoản 4 Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định: “ 2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.” … 4. “Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái,... ”.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Nhất T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được qui định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo Nguyễn Nhất T có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, được học tập đầy đủ các qui định về Luật giao thông đường bộ nhưng khi tham gia giao thông không tuân thủ triệt để các qui định đó. Cụ thể là điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng khi điều khiển xe không chấp hành về vượt xe. Lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Hành vi của bị cáo thể hiện việc xem thường pháp luật, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự an toàn giao thông là nguy hiểm cho xã hội nên phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung nhằm ổn định trật tự giao thông tại địa phương.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, được đại diện theo pháp luật của người bị hại bãi nại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s,b Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự :

Không có áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đáng ra phải xử phạt bị cáo một mức tù trong khung hình phạt mới thỏa đáng. Song khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cùng với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được nêu trên nên mở lượng khoan hồng cho bị cáo, như đề xuất mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát chỉ cần xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho các chủ sở hữu: Xe mô tô, biển số 86B5-022.27, xe mô tô, biển số 86B3-052.94, xe đạp điện cùng các giấy tờ liên quan đến việc sử dụng xe. Sau khi nhận lại tài sản, các chủ sở hữu không yêu cầu gì khác nên Tòa không xem xét giải quyết.

Đối với số 01 giấy phép lái xe số AU 913427 mang tên Nguyễn Nhất T do Sở giao thông vân tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30/5/2012 trả lại cho bị cáo sử dụng.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Nhất T đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 135.000.000 đồng. Cha và mẹ của người bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9] Về những vấn đề khác:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quyền kháng cáo: Người có quyền kháng cáo và thời hạn kháng cao theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhất T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Nhất T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Nhất T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Nhất T 01 giấy phép lái xe số AU 913427 mang tên Nguyễn Nhất T do Sở giao thông vân tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30/5/2012. Hiện đang tạm giữ tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Nhất T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo; người đại diện theo pháp luật của người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/7/2018).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ