- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Bị cáo Nguyễn Văn C cùng đồng bọn phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn P phạm tội đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2018/HSST Ngày 10-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dân
Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Nguyễn Đình Xuyên
2- Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà- Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2018/TLHS ngày 31 tháng 5 năm 2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2018/QĐXX-ST ngày 27/6/2018 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn C - sinh năm 1969, tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 2 xã N, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: lớp 2/10; con ông Nguyễn Công T; con bà Nguyễn Thị B; vợ Nguyễn Thị T. Bị cáo có 03 con lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1993.
Danh chỉ bản số: 092 do Công an huyện Cẩm Khê lập ngày 21/3/2018
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/3/2018, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 21/3/2018, hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
2. Nguyễn Văn Ch - sinh năm 1983, tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 8 xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: lớp 3/12; con ông Nguyễn Văn U; con bà Nguyễn Thị H; vợ Nguyễn Thị P. Bị cáo có 02 con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015.
Danh chỉ bản số: 091 do Công an huyện Cẩm Khê lập ngày 21/3/2018
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/3/2018, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 21/3/2018, hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
3. Nguyễn Văn P - sinh năm 1987, tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 1, xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nguyễn Văn A, Con bà: Nguyễn Thị N; vợ Phan Thị V. Bị cáo có 01 con sinh năm 2011.
Danh chỉ bản số 094 do Công an huyện Cẩm Khê lập ngày 21/3/2018
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/3/2018, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 21/3/2018, hiện đang tại ngoại tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
4. Nguyễn Văn Q - sinh năm 1969, tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 4, xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 7/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nguyễn Quý D, Con bà: Hồ Thị T; vợ Phan Thị T. Bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: Không.
Danh chỉ bản số 093 do Công an huyện Cẩm Khê lập ngày 21/3/2018
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/3/2018, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 21/3/2018, hiện đang tại ngoại tại xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa,, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/3/2018, Nguyễn Văn P, cùng Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn Q, đến nhà Nguyễn Văn C ở khu 2, xã N chơi. Tại đây, các đối tượng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm sát phạt nhau bằng tiền, tất cả đều đồng ý. C lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn và chiếc mành cọ của gia đình trải xuống nền gian phòng ngủ để ngồi đánh bạc. Các đối tượng ngồi thành hình vòng tròn trên mành cọ. Nguyễn Văn Ch là người chia bài ván đầu tiên. Các đối tượng đánh bạc liên tục đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Cẩm Khê phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ trên chiếu bạc: 1.840.000 đồng; 52 quân bài tú lơ khơ, 01 mành cọ đã cũ. Thu giữ tại túi quần hậu bên phải của Ch 01 ví giả da màu nâu bên trong có 1.500.000đ; thu giữ tại túi quần bên phải của P số tiền 2.250.000đ, tại chỗ hai đối tượng này đều khai nhận số tiền thu giữ trên sử dụng vào mục đích đánh bạc. Thu giữ tại túi áo ngực bên trái của Nguyễn Văn Q 01 ví giả da màu đen bên trong có 5.600.000đ, tại chỗ Q khai nhận số tiền đựng trong ví trên Q không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Hình thức đánh phỏm sát phạt nhau bằng tiền là mỗi ván bài, người chơi sử dụng 52 quân bài tú lơ khơ chia cho mỗi người chơi 09 quân bài, riêng người chia bài được 10 quân bài và là người đánh đầu tiên. Số bài còn lại úp để trên chiếu bạc. Người chia bài đánh đầu tiên, tiếp theo là người ngồi bên phải liền kề, nếu người đó ăn được quân bài thì không phải bốc bài mà đánh luôn (quân bài ăn được là quân bài kết hợp được với 02 quân bài ở trên tay tạo thành một phỏm tức là tạo thành 03 quân bài giống nhau nhưng khác chất hoặc 03 quân bài cùng chất liên tiếp nhau), nếu không ăn được quân bài đó thì phải bốc 01 quân bài úp dưới chiếu lên và đánh 01 quân sang người ngồi bên phải tiếp theo. Cứ tiếp tục như vậy đến khi mỗi người chơi đánh được 04 lá bài hoặc có người ù (tức là có 03 phỏm) thì ván bài kết thúc. Người ù được thu của những người chơi còn lại mỗi người 50.000đ trừ trường hợp có người ù đền (tức là đánh 03 quân bị ăn cả ba) thì phải người ù đền phải trả cho người ù 150.000đ, những người chơi còn lại không phải trả tiền. Nếu không có ai ù thì cộng điểm các quân bài không tạo thành phỏm trên tay để so điểm với nhau. Ai ít điểm nhất thì thắng bạc và được thu tiền của người về thứ hai 10.000đ, người về thứ ba 20.000đ, người về thứ tư 30.000đ. Ai không có phỏm nào (gọi là cháy) phải trả cho người về nhất 40.000đ. Người thắng bạc ván đó sẽ được chia bài ván tiếp theo.
Trước khi đánh bạc Ch có 2.600.000đ, C có 790.000đ, P có 2.000.000đ. Các đối tượng khai nhận toàn bộ số tiền đều được các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Trước khi đánh bạc Q có 5.800.000đ, Q khai chỉ lấy ra 200.000đ sử dụng vào mục đích đánh bạc, nếu thua hết số tiền này Q sẽ không chơi nữa, còn số tiền 5.600.000đ Q cất trong ví không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Như vậy tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.590.000đ. Quá trình đánh bạc, các đối tượng không phải nộp tiền thuê địa điểm đánh bạc (tiền hồ) cho ai.
Tại cơ quan điều tra, các bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Lời khai của các bị can phù hợp với nhau về phương thức, thủ đoạn phạm tội và phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra xác định số tiền 5.600.000đ Nguyễn Văn Q đựng trong chiếc ví giả da màu đen không sử dụng vào mục đích đánh bạc, nên ngày 24/04/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Khê ra Quyết định trả lại số tiền 5.600.000đ và 01 ví giả da màu đen cho Nguyễn Văn Q là phù hợp.
Đối với chiếc ví giả da màu nâu thu giữ của Nguyễn Văn Ch, quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên ngày 24/04/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Khê ra Quyết định trả lại chiếc ví trên cho Nguyễn Văn Ch là đúng quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 30/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Q về tội đánh bạc, theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện Cẩm Khê giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử
Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn văn Q.
Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i,s, x khoản 1 điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i,s khoản 1 điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Ch.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn Q từ 06 đến 09 tháng tù
Nguyễn Văn C 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ
Nguyễn Văn Ch từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ
Nguyễn Văn P từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 5.590.000đ là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ, 01 mành cọ đã cũ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác. Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/3/2018 các bị cáo đã cùng nhau đánh bạc tại nhà bị cáo C bằng hình thức đánh phỏm sát phạt nhau bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.590.000đ. Xét lời nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn P đã phạm tội "Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bỏ sung năm 2017. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 321 quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000đ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự cộng cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, vì vậy cần phải xử phạt nghiêm để giáo dục các bị cáo và làm gương cho người khác.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo là người có hiểu biết xã hội, nhưng không chịu làm ăn chính đáng mà lại rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, người thắng thì được tiền, người thua thì mất tiền, tất cả thắng hay thua đều là trái pháp luật, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra. Lần phạm tội này các bị cáo Nguyễn Văn C có 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s,x khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự ; Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn P có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, là phạm lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo C là Liệt sĩ, bố bị cáo Ch có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương, nên cần áp dụng thêm khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q nhân thân bị cáo không tốt, bị cáo được hưởng 01tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, là người phạm tội thành khẩn khai báo; mẹ bị cáo có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương, nên cần áp dụng thêm khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách hình sự, nên khi lượng hình cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy các bị cáo có nơi cư trú ổn định, chưa cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn P cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự còn quy định: người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy ngoài hình phạt chính, cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn Q 15.000.000đ để sung quỹ nhà nước.
. Về xử lý vật chứng: Số tiền 5.590.000đ là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Tịch thu tiêu hủy thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ, 01 mành cọ đã cũ.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn P phạm tội đánh bạc.
Áp dụng khoản 1,3 điều 321, khoản 1, khoản 2 điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.
Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i,s khoản 1 điều 51, điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P.
Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Ch.
Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i,s, x khoản 1 điều 51, điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
Xử phạt:
1. Nguyễn Văn Q 24(Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 06 ngày tạm giữ(từ ngày 15/3/2018 đến ngày 21/3/2018) quy đổi = 18 ngày cải tạo không giam giữ. Vậy bị cáo còn phải chấp hành 23(Hai mươi ba) tháng 12(Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ, được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho UBND xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ, giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo.
2. Nguyễn Văn P 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng) để sung qũy nhà nước.
3. Nguyễn Văn C 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung qũy nhà nước.
4. Nguyễn Văn Ch 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung qũy nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn Quang 15.000.000đ (Mười
triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.
Thời hạn nộp tiền một lần kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a,c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu số tiền 5.590.000đ để sung qũy nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ, 01 mành cọ đã cũ. Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 30/5/2018 giữa Công an huyện Cẩm Khê và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê.
3. Về án phí: ¸p dông khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện, tỉnh - Bị cáo - Công an huyện - Thi hành án hình sự - Thi hành án dân sự; - Lưu HS+VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Dân |