vanban.org

Bản án 33/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2017. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bích T bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 33/2018/HS-ST
Ngày 06-02-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Thị Ngọc Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2018/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1983 tại tỉnh A; thƣờng trú: Ấp 2, xã V, huyện P, tỉnh A; tạm trú: Ấp C, xã H, thành phố B, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 và bà Trần Thị X, sinh năm 1966; bị cáo có 03 em ruột, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1993; bị cáo không có chồng, có 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không, bị bắt tạm giam ngày 23/9/2017, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Huỳnh Anh T, sinh năm 1996; địa chỉ: Số 13/1 khu phố 1 A, phƣờng A, thị xã T, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Thị Bích T nghiện ma túy từ năm 2016. Sáng ngày 23/9/2017, T đến khu vực xã T, thành phố B, tỉnh Đ gặp ngƣời đàn ông tên K (chƣa rõ nhân thân) mua 13 liều ma túy đá đƣợc bảo quản trong gói ni lon hàn kín với giá 1.700.000 đồng. Sau đó, T về phòng trọ sử dụng hết 02 liều. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T mang số ma túy còn lại đi rủ bạn cùng sử dụng. Khi T đang đứng chờ bạn tại khu vực thuộc tổ 01, khu phố T, phƣờng Tân Đ, thị xã D, tỉnh B thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng Tân Đ, thị xã D, tỉnh B kiểm tra thu giữ 11 gói ma túy do T tự nguyện giao nộp.

Ngày 24/9/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thị xã D ra Quyết định trƣng cầu giám định số 756/QĐ-CQ.CSĐT trƣng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B giám định: 11 gói giấy bạc bên trong có tinh thể màu trắng.

Tại kết luận giám định số 440/GĐ-PC54 ngày 02/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể (M1), (M2) gửi đến giám định là ma túy, có trọng lƣợng 1,0913 gam (M1); 0,9457 gam (M2), loại Methamphetamine.

Tang vật tạm giữ: 01 bì thƣ niêm phong số 440-PC54 trọng lƣợng sau giám định là 0,6451g (M1) và 0,6443g (M2).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định số 440/GĐ-PC54 ngày 02/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B.

Đối với đối tƣợng chƣa rõ nhân thân lai lịch bán ma túy cho T tại khu vực xã T, thành phố B, tỉnh Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đang xác minh làm rõ xử lý sau.

Cáo trạng số 24/QĐ-KSĐT ngày 09 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố Nguyễn Thị Bích T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T từ 01 năm 03 tháng đến 01năm 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy Một bì thƣ niêm phong số 440/PC54 trọng lƣợng sau giám định là 0,6451g (M1) và 0,6443g (M2).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bích T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời làm chứng cũng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Sáng ngày 23/9/2017, Nguyễn Thị Bích T đến khu vực xã T, thành phố B, tỉnh Đ gặp ngƣời đàn ông tên K (chƣa rõ nhân thân) mua 13 liều ma túy đá với giá 1.700.000 đồng, đƣợc bảo quản trong gói ni lon hàn kín. Sau đó, T sử dụng hết 02 liều. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T mang số ma túy còn lại đến khu vực thuộc tổ 01, khu phố T, phƣờng Tân Đ, thị xã D, tỉnh B để rủ bạn cùng sử dụng. Khi T đang đứng chờ bạn thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng Tân Đ, thị xã D, tỉnh B kiểm tra thu giữ 11 gói ma túy do T tự nguyện giao nộp.

Kết luận giám định số 440/GĐ-PC54 ngày 02/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể (M1), (M2) gửi đến giám định là ma túy, có trọng lƣợng 1,0913 gam (M1); 0,9457 gam (M2), loại Methamphetamine.

Xét, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của ngƣời làm chứng tại cơ quan điều tra, biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Với hành vi cất giữ 2,037 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đủ năng lƣ̣c chi ̣u trách nhiê ̣m hinh sƣ̣. Do vâ ̣y, Cáo trạng của Viện

̀

kiểm sát nhân dân thị xã D truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nhƣ trên là có căn cứ, đúng ngƣờ i, đúng tô ̣i.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i , xâm pha ̣m đến hoa ̣t đô ̣ng quản lý của Nhà nƣớ c đối vớ i chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chƣa đƣợc đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của bị cáo, loại tội phạm này là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phƣơng, gây hậu quả rất xấu cho xã hội. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, có xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên khi quyết đi ̣nh hinh ph ạt

̀ cũng cần xem xét giảm mô ̣t phần hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo.

̀

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án tiền sự.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ niêm phong số 440-PC54 trọng lƣợng sau giám định là 0,6451g (M1) và 0,6443g (M2).

Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Tuyền là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ niêm phong số 440-PC54 trọng lƣợng sau giám định 0,6451g (M1) và 0,6443g (M2).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/01/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D với Chi cục thi hành án Dân sự thị xã D).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghin) đồng án phí

̀ hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ