vanban.org

Bản án 33/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 03/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Hà Văn T, 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/5/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà văn T, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––
Bản án số: 33/2018/HS-ST
Ngày: 03/8/2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Dần

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bá Khiên

Ông Vì Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Huân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Hà Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1972 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm B, xã P Vế, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Hà Văn B, sinh năm 1942 và bà Hà Thị H (đã chết); bị cáo có vợ là Hà Thị T, sinh năm 1972; bị cáo có 02 con sinh năm 1993 và 1995; Tiền án, tiền sự : không ; nhân thân: Chưa có án tích, chưa bị xử phạt lần nào; bị cáo bị tạm giữ ngày 02/5/2018 và chuyển tạm giam ngày 11/5/2018. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 09 giờ ngày 02 tháng 5 năm 2018, tổ công tác Của Công an huyện Mai Châu phối hợp với Công an tỉnh Hòa Bình làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Hin Pén, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thì phát hiện Hà Văn T đang đi bộ theo hướng Cun Pheo – Piềng Vế có nghi vấn đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi áo bên trái T đang mặc có một gói nilon chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận là Heroine. Tổ Công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để xác minh, làm rõ.

Tại cơ quan Điều tra T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 02/5/2018 T đi bộ từ nhà lên xóm Bước, xã Xăm Khòe tìm anh Hà Văn Đ là thông gia với T để cùng đi tìm mua bò, trên đường đi T có gọi điện cho người đàn ông dân tộc Mông tên Giàng hay làm nương ở khu vực xóm Hin Pén, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu hỏi có thấy anh Điểu ở khu vực đó không, người đàn ông đó hỏi T có mua ma túy không, con 05 phân Heroine giá một triệu đồng, T đồng ý mua và nói đang ở xóm Hin Pén, xã Cun Pheo. Một lúc sau người đó đem xuống đưa cho T một gói ma túy, T cầm lấy cho vào túi áo đang mặc và trả tiền cho người đàn ông dân tộc Mông đó. Sau khi mua được ma túy T đi bộ về nhà, khi về đến khu vực Ủy ban nhân dân xã Cun Pheo thì bị tổ công tác Công an bắt quả tang.

Vật chứng, tang vật Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ gồm: 01 gói được gói bằng hai lớp nilon, lớp bên ngoài gói bằng nilon màu xanh, lớp bên trong gói bằng nilon màu trắng, trong cùng là chất bột dạng cục màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, có 02 sim Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Tại biên bản mở niêm phong cân trọng lượng tang vật xác định: Chất bột thu giữ của của Hà Văn T có trọng lượng 3,86 gam.

Tại bản kết luận số 125/KLGĐ-CAT-PC54 ngày 09/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ghi tên Hà Văn T gửi giám định có khối lượng là 3,86 gam, là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT – VKS – HS ngày 11 tháng 7 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu đã truy tố Hà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 24 (hai mươi bốn) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/5/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên :

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine của bị cáo Hà Văn T trong vụ án.

- Tuyên tịch thu phát mại để sung quỹ nhà nước Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, có 02 sim Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Về vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông mà T khai tên là Giàng đã bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

- Đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận ; Lời sau cùng của bị cáo Hà Văn T: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo không có tranh luận gì. Nay bị cáo đã thực sự nhận ra lỗi lầm, bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, vợ con. Bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

T

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình ; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc định tội và hình phạt: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 02/5/2018, tại khu vực xóm Hin Pén, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tổ Công tác Công an huyện Mai Châu phối hợp với Công an tỉnh Hòa Bình bắt quả tang Hà Văn T đang tàng trữ 3,86 gam Heroine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy, như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân và xã hội. Bị cáo là một người chồng, người cha, đáng nhẽ bị cáo phải gương mẫu, tu trí làm ăn, làm người có ích cho gia đình và xã hội, tuy nhiên chỉ vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó cần phải xử phạt bị cáo với một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng đã đã cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự , bị cáo không có tình tiết tăng nặng ; về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo có bố và mẹ đều là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản,”. Xét thấy, theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập không ổn định, gia đình không có tài sản gì có giá trị nên không có khả năng thi hành. Do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với toàn bộ số Heroine cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Hà Văn T. Cần được tịch thu để tiêu hủy sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, có 02 sim Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng, xét thấy đây là công cụ, phương tiện để T liên lạc mua ma túy với người đàn ông dân tộc Mông. Vì vậy đồng xét xử xét cần tuyên tịch thu phát mại để sung quỹ nhà nước

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông mà T khai tên là Giàng, thường xuyên làm nương tại khu vực xóm Hin Pén, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu đã bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét đến.

- Đối với anh Hà Văn Điểu, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ để xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét đến.

Bị cáo đang bị tam giam, cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1,3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về án phí: Bị cáo Hà Văn T phải nộp án phí theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

- Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn T, 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/5/2018.

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo Hà Văn T.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy của bị cáo trong vụ án, được niêm phong trong phong bì màu trắng dán kín, mang tên đối tượng Hà Văn T.

- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen có số IMEI 1: 3544930959511694; số IMEI 2: 354495090951694 (kèm theo 02 sim Viettel) điện thoại cũ đã qua sử dụng.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 31/THA ngày 23/7/2018).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hà Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Báo cho bị cáo Hà Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ