vanban.org

Bản án 33/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 08/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Hưng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh Hưng 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26-02-2018. Hình phạt bổ sung: miễn phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Hưng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HS-ST
Ngày 08 - 8 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và bà Hoàng Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Huy Tiền - Kiểm Sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2018/TLST – HS ngày 03 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐXXST – HS ngày 25 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1989 tại tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nông Thị Đ, sinh năm 1969; bị tạm giữ từ ngày 21 tháng 3 năm 2018 – Có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Bế Văn H, sinh năm 1996 – Vắng mặt

Địa chỉ: Bon Đắk Huýt, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

- Anh Hứa Văn L, sinh năm 2001 – Vắng mặt

- Người giám hộ: Ông Hứa Văn L1, sinh năm 1979 (là bố của anh Hứa Văn L) – Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn 02, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N có nơi cư trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang vào làm thuê và ở nhà người cùng quê tại Bon Đắk Huýt, xã Q, huyện T, tỉnh Đăk Nông từ năm 2015 là đối tượng nghiện ma túy đá.

Vào sáng ngày 13/3/2018, Nguyễn Văn N đón xe đò từ Bon Đắk Huýt, xã Q, huyện T xuống thị xã Đ, tỉnh Bình Phước để mua ma túy về sử dụng, thông qua các đối tượng nghiện, N biết một người nam giới tên thường gọi là “L” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở thị xã Đ, tỉnh Bình Phước có bán ma túy đá nên N tìm gặp và mua của L 01 bịch ma túy với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng), số ma túy L bán cho N đã được L bỏ sẵn trong một bịch nilông màu trắng, kích thước (04 x 05)cm, phía trên gần khóa kéo có viền màu xanh. Sau khi mua được ma túy, đến khoảng 18 giờ cùng ngày Nghị đón xe đò về lại Bon Đắk Huýt, xã Q, huyện T. Trong thời gian ở tại Bon Đắk Huýt, xã Q, huyện T, N luôn cất giấu số ma túy trên bên người.

Đến khoảng 14 giờ ngày 20/3/2018, N rủ Bế Văn H, sinh năm 1996, trú tại Bon Đắk Huýt, xã Q đón xe buýt ra thị trấn K, huyện Đ để kiếm việc làm. Trước khi đi, N lấy bịch ma túy đã mua của L bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá điếu hiệu “WHITE HORSE” rồi cất giấu trong túi lưới phía bên phải của chiếc ba lô. Do biết Hứa Văn L, sinh năm 2001, trú tại thôn 2, xã Q, huyện T đã ra thị trấn K, huyện Đ để tìm việc làm từ trước nên khoảng 17 giờ cùng ngày N đến thị trấn K và gọi điện thoại nhờ L ra đón, lúc này L đang chơi điện tử ở quán Internet GK thuộc TDP 2, thị trấn K. Sau đó L gọi điện cho taxi đến quán Internet trên để đón L và L yêu cầu tài xế taxi chạy tới ngã ba thị trấn K để đón N và H. Sau khi gặp nhau, cả ba thống nhất rồi yêu cầu tài xế taxi chở tới nhà nghỉ Hoa Hồng, thuộc TDP 5, thị trấn K, huyện Đ và thuê phòng số 5 của nhà nghỉ để nghỉ. Tại phòng nghỉ, lúc này H và L đang nằm ở trên giường, N đi đến chiếc ba lô đựng tư trang cá nhân của mình lấy một ít ma túy đá đổ vào lồng bàn tay, số còn lại N cất giấu vào vị trí cũ của chiếc ba lô, sau đó N rủ L và H cùng sử dụng ma túy và được cả hai đồng ý. Ngay lúc này, L lấy trong túi quần của mình 01 cái nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy), rồi cả ba người cùng nhau sử dụng ma túy mà N vừa lấy ra. Khi đang sử dụng ma túy thì H nhận được cuộc điện thoại của em trai là Bế Văn T, sinh năm 1998, T nói với H là hiện cũng đang thuê nhà nghỉ Hoa Hồng, ở phòng số 7 cùng với bạn tên K (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và nói sẽ cùng bạn qua phòng số 5 của H để chơi, nghe H nói lại N nên N đã cất giấu bộ dụng cụ đang sử dụng ma túy dưới gầm giường để tránh T và K phát hiện. Ngồi chơi được một lúc thì T và K về lại phòng số 7 để ngủ, còn N, L, H tiếp tục sử dụng hết số ma túy trong nỏ đã cất giấu rồi đi ngủ.

Khoảng 15 giờ ngày 21/3/2018, sau khi uống cà phê tại quán New Moon, thuộc TDP 8, thị trấn K, huyện Đ xong thì L và K gọi taxi đi chơi game tại quán Internet GK, thuộc TDP 2, thị trấn K, còn N, H, T đón taxi về lại nhà nghỉ Hoa Hồng để nghỉ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện kiểm tra phòng số 5 của nhà nghỉ thì bắt quả tang N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, (Bút lục 68-69; 91-92; 95-96).

Thu giữ: 01 bịch nilông chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá) được bỏ trong vỏ bao thuốc lá điếu hiệu “WHITE HORSE” được cất giấu trong túi lưới phía bên phải của ba lô đựng tư trang cá nhân của Nguyễn Văn N; 01 ba lô du lịch, loại hai quai, kích thước (50 x 35 x 20)cm, trên ba lô có dòng chữ “HOANG HA” và hình ngôi sao bằng kim đỏ, được phát hiện, thu giữ dưới nền nhà, tại vị trí phía dưới chiếc bàn nhựa, trong phòng số 5 của nhà nghị Hoa Hồng. Ngoài ra tạm giữ 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn N; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1S màu đen hồng của Nguyễn Văn N, (Bút lục 44).

Tại bản kết luận giám định số 20-KLMT/PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy, là Methamphetamine. Khối lượng tinh thể màu trắng là 0,6745 gam, (Bút lục 34).

Đối với 01 điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO F1S, màu đen – hồng và 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn N, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Nguyễn Văn N, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R’Lấp đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trao trả lại cho Nguyễn Văn N.

Đối với 01 bịch nilông màu trắng kích thước (04 x 05) cm, phía trên gần khóa kéo có viền màu xanh, bên trong có chứa 0,3648 gam Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) được đựng trong 01 gói nilông trong suốt kích thước (10 x 15)cm; 01 vỏ bao thuốc lá điếu hiệu “WHITE HORSE”; 01 ba lô du lịch, loại hai quai, kích thước (50 x 35 x 20)cm, trên ba lô có dòng chữ “HOANG HA” và hình ngôi sao bằng kim loại màu đỏ. Quá trình điều tra xác định các đồ vật trên là vật chứng của vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R’Lấp đã nhập kho vật chứng Công an huyện để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên là “L”, người có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn N hiện chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R’Lấp đang tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định.

Đối với Bế Văn Hoàng, Bế Văn Th, Hứa Văn L và đối tượng tên K (chưa rõ nhân thân, lai lịch) quá trình điều tra xác định các đối tượng trên không biết Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên. Riêng Hứa Văn L và Bế Văn H xác định vào tối ngày 20/3/2018 tại phòng số 5 của nhà nghỉ Hoa Hồng thuộc TDP5, thị trấn K, huyện Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Nguyễn Văn N nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R’Lấp đã ra quyết định xử lý hành chính phạt cảnh cáo là có căn cứ.

Tại bản cáo trạng số 36/Ctr-VKS ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp để xét xử bị cáo Nguyễn Văn N về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2018.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bịch nilông màu trắng kích thước (04 x 05) cm, phía trên gần khóa kéo có viền màu xanh, bên trong có chứa 0,3648 gam Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) được đựng trong 01 gói nilông trong suốt kích thước (10 x 15)cm; 01 vỏ bao thuốc lá điếu hiệu “WHITE HORSE”; 01 ba lô du lịch, loại hai quai, kích thước (50 x 35 x 20)cm, trên ba lô có dòng chữ “HOANG HA” và hình ngôi sao bằng kim loại màu đỏ là những đồ vật liên quan tới hành vi phạm tội.

- Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 75, ngày 03 tháng 6 năm 2018 trả lại 01 giấy chứng minh nhân dân; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, màu đen – hồng cho bị cáo Nguyễn Văn N.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn N không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã công bố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21/3/2018, tại nhà nghĩ Hoa Hồng thuộc Tổ dân phố 5, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,6745 gam ma túy là Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng thì bị Cơ quan Công an huyện Đắk R’Lấp bắt quả tang. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 249 qui định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a. …

c. He roine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời ảnh hướng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung tội phạm.

. Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng vụ án:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,3648 gam Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) được đựng trong 01 gói nilông trong suốt kích thước (10 x 15)cm; 01 vỏ bao thuốc lá điếu hiệu “WHITE HORSE”; 01 ba lô du lịch, loại hai quai, kích thước (50 x 35 x 20)cm, trên ba lô có dòng chữ “HOANG HA” và hình ngôi sao bằng kim loại màu đỏ là vật chứng liên quan tới hành vi phạm tội.

- Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, màu đen – hồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 75 ngày 03 tháng 6 năm 2018 trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N là phù hợp nên cần chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 21/3/2018).

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 0,3648 gam Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) được đựng trong 01 gói nilông trong suốt kích thước (10 x 15)cm; 01 vỏ bao thuốc lá điếu hiệu “WHITE HORSE”; 01 ba lô du lịch, loại hai quai, kích thước (50 x 35 x 20)cm, trên ba lô có dòng chữ “HOANG HA” và hình ngôi sao bằng kim loại màu đỏ (như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2018).

- Chấp nhận quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 75, ngày 03 tháng 6 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp trả lại 01 giấy chứng minh nhân dân; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S, màu đen – hồng cho bị cáo Nguyễn Văn N.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đắk Nông;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông;

- VKSND huyện Đắk R’lấp;

- CA huyện Đắk R’lấp;

- THADS huyện Đắk R’lấp;

- Bị cáo;

(Đã ký)

- Lưu HS,VP.

Nguyễn Anh Ửng

Khoảng 14 giờ ngày 26 tháng 02 năm 2018, Phạm Minh Hưng là đối tượng nghiện ma túy điều khiển xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 47D1-361.66 của chị Trần Bích Ngọc chở Ngọc đi từ đường liên xã thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Kiến Đức, huyện Đăk R’Lấp ra đường Quốc lộ 14 thì bị lực lượng Công an huyện Đăk R’Lấp yêu cầu dừng xe kiểm tra, Hưng liền để xe lại và bỏ chạy theo chiều ngược lại vào xóm Thạch Hà, được khoảng 50m (năm mươi mét) Hưng dùng tay trái lấy bịch ni lông bên trong túi áo bên trái ném vào vườn cà phê, vừa ném xong thì Hưng bị lực lượng Công an đuổi theo ngay phía sau bắt giữ, yêu cầu đưa đến chỗ bịch ni lông Hưng vứt, lập biên bản bắt quả tang đối với Hưng cùng tang vật.

Tại bản Kết luận định giám định số: 12-KLMT/PC54 ngày 02-3-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Tinh thể màu trắng trong 04 gói nilon gửi giám định là chất ma túy, là Methamphetamine. Khối lượng tinh thể màu trắng trong gói thứ nhất là 16,0297 gam; Khối lượng tinh thể màu trắng trong gói thứ hai là 16,3581 gam; Khối lượng tinh thể màu trắng trong gói thứ ba là 4,8927 gam; Khối lượng tinh thể màu trắng trong gói thứ bốn là 4,4059 gam; Tổng khối lượng tinh thể màu trắng gửi giám định là 41,6864 gam. (Hoàn lại đối tượng giám định: Tinh thể màu trắng trong gói thứ nhất khối lượng 13,2718 gam; Tinh thể màu trắng trong gói thứ hai khối lượng 13,3769 gam; Tinh thể màu trắng trong gói thứ ba khối lượng 3,7972 gam; Tinh thể màu trắng trong gói thứ bốn khối lượng 3,2452 gam).

Thời điểm bắt quả tang và quá trình điều tra Phạm Minh Hưng khai nhận: do là người nghiện ma túy nên sáng ngày 25-02-2018 Hưng đi xe khách từ xã Đăk Buk So, huyện Tuy Đức đến ngã tư Bình Phước, rồi bắt xe đến Ngã tư ga, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh hỏi và mua từ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch 10.000.000 đồng ma túy đá và dặn chia nhỏ thành 4 phần. 14 giờ ngày 25-02-2018 Hưng bắt xe về lại Tuy Đức. Tới Đăk Buk So, Hưng ghé vào tiệm tạp hóa mua bịch tăm bông và xin thêm một đoạn keo hai mặt màu vàng. Sau đó Hưng thuê phòng tại nhà nghỉ Phúc Đạt, vứt tăm bông trong túi ni lông ra, lấy 4 gói ma túy bỏ vào, cuộn tròn lại, cột dây thun có sẵn trong nhà nghỉ và dán keo màu vàng ở ngoài để người khác không phát hiện ra ma túy. Thực hiện xong Hưng trả phòng và về phòng trọ thuê từ trước với Trần Bích Ngọc, sinh năm 1998 tại Thôn 2, xã Đăk Buk So, huyện Tuy Đức, tại đây cả hai đã cùng sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 26-02-2018 Ngọc cùng Hưng điều khiển xe của Ngọc đến phòng trọ chị Út tại tổ dân phố 5, thị trấn Kiến Đức, huyện Đăk R’Lấp chơi. Khi đi Hưng dấu ma túy đá vào túi áo khoác bên trái. Đến nơi, thấy có dụng cụ sử dụng ma túy đá nên Hưng ra ngoài lấy một ít ma túy đá để Ngọc, Hưng, Út và 02 người bạn của Út (không rõ họ tên, địa chỉ) sử dụng chung. Số ma túy đá còn lại Hưng tiếp tục cất dấu ở túi áo khoác bên trái. Đến hơn 14 giờ cùng ngày, Ngọc và Hưng hướng từ xóm Thạch Hà ra quốc lô 14 để về. Cả hai đi đến gần ngã ba, đoạn đối diện Hội trường tổ dân phố 5, thị trấn Kiến Đức thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Người làm chứng chị Trần Bích Ngọc trình bày trùng khớp với lời khai của Hưng từ thời điểm Hưng về phòng trọ cả hai thuê chung tại Thôn 2, xã Đăk Buk So, huyện Tuy Đức và diễn biến sự việc vào ngày 26-02-2018. Tuy nhiên, Ngọc không biết Hưng mua ma túy ở đâu, cũng không biết Hưng đang tàng trữ ma túy đá.

Người làm chứng anh Ngô Quyết Chiến và anh Dương Tú Tài trình bày trùng khớp với lời khai của Hưng về diễn biến sự việc từ thời điểm Hưng và Ngọc bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra cho đến thời điểm lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng của vụ án thu giữ được: 01 gói ni lông màu trắng, loại gói đựng tăm bông có khóa nhựa kích thước 11cm x 12cm, mặt ngoài có chữ Misu, được cuộn tròn và quấn bằng dây thun màu vàng, phía ngoài có dán giấy màu vàng, bên trong có 04 gói ni lông màu trắng, các gói này chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 47D1-361.66 đứng tên chủ sở hữu Trần Bích Ngọc.

Cáo trạng số 25/Ctr-VKS-ĐL ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp đã truy tố bị cáo Phạm Minh Hưng về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo Phạm Minh Hưng khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Hưng từ 11 (mười một) đến 12 (mười hai) năm tù. Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine còn lại sau giám định. Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47D1-361.66 cho chủ sở hữu chị Trần Bích Ngọc.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Phạm Minh Hưng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ ngày 26 tháng 2 năm 2018, tại khu vực đối diện nhà ông Lê Văn Ngoạn thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Kiến Đức, huyện Đăk R’Lấp, Phạm Minh Hưng có hành vi tàng trữ trái phép 41,6864 gam Methamphetamine; bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây bất bình cho người dân trong khu vực. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

. Về các tình tiết tăng nặng: Ngày 05-5-2011 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt bị cáo Hưng 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bằng Bản án số 64/2011/HSPT. Ngày 02-9-2016 Hưng chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.

. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về quyết định hình phạt: Bị cáo Hưng có nhân thân xấu, có 01 tiền án về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo đã được giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân; có ý thức coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 33,6911 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Ngày 14 tháng 5 năm 2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp ra quyết định xử lý vật chứng số 18 trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47D1-361.66 cho chủ sở hữu chị Trần Bích Ngọc, xe không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội, đúng theo khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Về án phí: Bị cáo Phạm Minh Hưng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Hưng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh Hưng 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26-02-2018.

Hình phạt bổ sung: miễn phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 33,6911gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 6 năm 2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đăk R’Lấp).

- Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp ra quyết định xử lý vật chứng số 18 ngày 14 tháng 5 năm 2018, trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47D1-361.66 cho chủ sở hữu chị Trần Bích Ngọc.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Minh Hưng phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thùy Hoàng Thị Hiền

Lê Thị Thu Hà

Cỡ chữ