vanban.org

Bản án 33/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 16/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 15/6/2018. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HS-ST
Ngày: 16-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Châu Văn Bằng

2. Ông Cao Minh Ngoan

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Panal - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn H, sinh năm 1982 tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; đăng ký thường trú: ấp Đ, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: ấp Đ, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn M và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo Huỳnh Văn H bị tạm giữ ngày 15/6/2018, đến ngày 18/6/2018 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Trú tại: ấp T, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

2/ Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1990 (có mặt)

Trú tại: ấp Đ, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

3/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 (có mặt)

Trú tại: ấp Đ, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

4/ Anh Lê Thanh L, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Trú tại: ấp Đ, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

Người làm chứng: Chị Huỳnh Thanh H (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, vào lúc 15 giờ 10 phút ngày 15/6/2018, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tiến hành kiểm tra và bắt quả tang trên đường tỉnh lộ 925, đoạn thuộc ấp T, xã Ph, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Huỳnh Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, lực lượng công an đã phát hiện và thu giữ một bịch ni lông màu trắng trong được hàn kín, kích thước 6,8 x3,9 cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đá (ma túy tổng hợp) được đặt trong vỏ bao thuốc lá hiệu bastos để trong bịch ni lông màu xanh treo trên khung xe bằng kim loại (khung sắt tự chế dùng để chở đồ) của xe mô tô nhãn hiệu Nagaki màu xanh bạc, biển kiểm soát 95F5-4108; hai bịch ni lông màu xanh; một vỏ bao thuốc lá hiệu Bastos; một điện thoại di động hiệu Samsung, sê ri số R58HC34AAYJ, tiền Việt Nam 5.240.000 đồng của Huỳnh Văn H.

Quá trình điều tra, Huỳnh Văn H khai nhận trước đó vào sáng ngày 13/6/2018, do mâu thuẫn với bạn gái nên bắt xe khách đi từ Hậu Giang đến địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H đến địa bàn thuộc quận 8, thành phố Hồ Chí Minh thì gặp một người bạn tên D (cùng quê với H). Tại đây, H và D cùng đi ăn và uống bia (nhậu). Trong lúc nhậu, H kể cho D nghe về hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và còn đang thiếu nợ, D nói với H sẽ kiếm đường giúp H làm ăn lấy tiền trả nợ nhưng không nói làm gì. Sau khi nhậu xong, H đi thuê nhà trọ để nghĩ một mình (không xác định được địa chỉ cụ thể).

Đến khoảng 09 giờ ngày 14/6/2018, D điện thoại cho H rủ uống cà phê, ăn sáng. Trong lúc uống cà phê, D đưa cho H một bịch ni lông bên trong có gói thuốc hiệu Bastos, có chứa ma túy. D kêu H mua số ma túy với giá 5.500.000 đồng, về bán lại với giá 12.000.000 đồng để kiếm lời thì H đồng ý. Sau khi mua ma túy thì H bỏ gói thuốc hiệu Bastos có chứa ma túy vào túi quần. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H bắt xe khách đi từ thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Hậu Giang, sau đó đi taxi về nhà bà Nguyễn Thị H là mẹ ruột của H ở ấp Đ, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Đến khoảng 20 giờ ngày 14/6/2018, Huỳnh Văn H điện thoại cho bạn gái là Nguyễn Ngọc L đến rước về nhà của L. Khi đến nhà L thuộc ấp Đ, xã Đông T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, H kêu L đi vào nhà trước, còn H thì lấy võ bao thuốc lá Bastos bên trong có chứa ma túy bỏ vào bịch ni lông màu xanh treo vào khung sắt trên yên xe mô tô nhãn hiệu Nagaki màu xanh bạc, biển kiểm soát 95F5-4108 đang dựng trong sân rồi vào nhà ngủ.

Đến khoảng 09 giờ ngày 15/6/2018, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nagaki, biển kiểm soát 95F5-4108 đi mua chanh không hạt trên địa bàn xã Ph, huyện Châu Thành, số ma túy H vẫn để trong bịch ni lông treo theo trên xe. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, H điện thoại cho một đối tượng tên P (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi có mua ma túy không (do H biết P có sử dụng ma túy) thì P nói khi nào cần sẽ điện thoại cho H. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, P điện thoại cho H kêu đem ma túy đến nhà nghĩ L xem để mua. Lúc này, H đang đi mua chanh nên hẹn P khoảng một giờ sau sẽ gặp. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H điều khiển xe Nagaki đến trước nhà nghĩ L thuộc ấp T, xã Ph, huyện Châu Thành, H điện thoại cho P nhưng không liên lạc được, nên chạy thêm khoảng 100m rồi dừng lại hút thuốc thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang H cùng toàn bộ số ma túy nói trên.

Tại kết luận giám định số 08/KLGĐ (Đ4)-PC54 ngày 18/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang đã kết luận: “mẫu tinh thể trong suốt đựng trong một bịch ni lông được niêm phong gởi giám định là ma túy, có trọng lượng (khối lượng): 7,07544 gam, loại Methamphetamine”.

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKS-HCT ngày 15/10/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tại Tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 15/6/2018.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trên cơ sở xem xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay. Cùng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Khoảng 15 giờ ngày 15/6/2018, Huỳnh Văn H bị bắt quả tang đang tàng trữ ma túy trên xe của H. Qua giám định kết luận số ma túy mà H cất giữ có trọng lượng (khối lượng): 7,07544 gam, loại Methamphetamine. Bị cáo khai nhận, số ma túy trên do bị cáo mua của một đối tượng tên D tại địa bàn quận 8, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 14/6/2018, sau đó đem về địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Lúc đầu khi mua ma túy bị cáo có ý định tìm đối tượng bán lại để kiếm lời, nhưng sau đó bị cáo để lại sử dụng. Quá trình điều tra, chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo khai nhận mục đích ban đầu là để bán trái phép chất ma túy cho người khác và theo quy định tại điều 98 của Bộ luật tố tụng hình sự thì “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.” Mặt khác, theo quy định tại Thông thư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 thì mục đích là vấn đề phải chứng minh trong tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được quy định tại Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Nhưng theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy được quy định ở ba điều luật khác nhau, và mức hình phạt của tội mua bán trái phép chất ma túy là cao hơn tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Chính vì không chứng minh được người mua; lời khai của bị cáo về mục đích tàng trữ ma túy là không có sự thống nhất từ lúc bị bắt qủa tang cho đến khi xét xử; cũng như để đảm bảo tính có lợi cho bị cáo, nên khi bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 7,07544 gam, loại Methamphetamine thì bị cáo bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 của của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (loại Methamphetamine) với khối lượng 7,07544 gam của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh ra nhiều tội phạm về tệ nạn xã hội khác, gây tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, đây là lỗi cố ý của bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng. Nên Hội đồng xét xử đã xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với đối tượng tên D là người bán ma túy cho bị cáo và đối tượng tên P là người bị cáo cho rằng đã hỏi mua ma túy của bị cáo. Quá trình điều tra, đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có cơ sở xem xét xử lý.

Về vật chứng:

+ 01 phong bì niêm phong số 8/2018 ngày 18/6/2018 có chứa chất ma túy (loại Methamphetamine) còn lại sau giám định có khối lượng 6,88474 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

+ 02 bịch ni lông màu xanh, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Bastos là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Nagaki, màu xanh-bạc, số máy: FMHN03005350, số khung H1ND61N05350, biển kiểm soát 95F5-4108, không có vè chắn gió hai bên, lốc máy màu đen, bên trái hiệu Sirena, bên phải hiệu Honda, xe đã qua sử dụng, không rõ chất lượng bên trong là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

+ 01 giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy, biển kiểm soát 95F5-4108 mang tên Lê Dũ Tâm phải tịch thu sung quỹ để đảm bảo việc thi hành án.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số sêri: R58HC34AAYJ không phải là công cụ phương tiện phạm tội do không chứng minh được bị cáo sử dụng vật chứng này vào mục đích mua bán ma túy, nên trả lại cho bị cáo.

+ Tiền Việt Nam là 5.240.000 đồng không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 và Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 15/6/2018.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong số 8/2018 ngày 18/6/2018 có chứa chất ma túy (loại Methamphetamine) còn lại sau giám định có khối lượng 6,88474 gam.

+ 02 bịch ni lông màu xanh, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Bastos.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Nagaki, màu xanh-bạc, số máy: FMHN03005350, số khung H1ND61N05350, biển kiểm soát 95F5-4108, không có vè chắn gió hai bên, lốc máy màu đen, bên trái hiệu Sirena, bên phải hiệu Honda, xe đã qua sử dụng, không rõ chất lượng bên.

+ 01 giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy, biển kiểm soát 95F5-4108 mang tên Lê Dũ Tâm.

Trả lại cho bị cáo:

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số sêri: R58HC34AAYJ.

+ Tiền Việt Nam là 5.240.000 đồng.

Các vật chứng nêu trên thể hiện tại phiếu nhập kho số PNK 05 ngày 01/11/2018. Đối với số tiền thể hiện tại biên lai thu tiền số 0002438 ngày 01/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ