- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Thị T cùng đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B B TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33 / 2018 / HS-ST Ngày: 09 / 5 /2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B B-TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Văn Việt
Bà Phạm Thị Bi Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B B tham gia phiên tòa:
Ông Võ Ngọc Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện B B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2018/TLST- HS ngày 05 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/ 2018 / HSST - QĐ - ngày 10/ 4/ 2018 đối với:
Các bị cáo:
1. Họ và tên: Tạ Thị T, sinh năm 1974
Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận.
Đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn BH, xã PH, huyện B B, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: Lớp 02/12; dân tộc: Chăm; giới
tính: Nữ; tôn giáo: Bà Ni; quốc tịch:Việt Nam; con ông Tạ Kh, sinh 1938 và bà Thị M, sinh năm 1937( chết); Hiện ở Thôn BH, xã PH, huyện B B, tỉnh Bình Thuận.
Chồng: Nguyễn Tu, sinh năm 1969 và 04 con ( lớn nhất sinh 1992, nhỏ nhất
sinh 2005)
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 03/01/2018 và chuyển tạm giam từ ngày 09/01/2018 đến ngày 12/02/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị Thái H, sinh năm 1977
Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận.
Đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn BM, xã PH, huyện B B, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Chăm;
giới tính: Nữ; tôn giáo: Bà Ni; quốc tịch:Việt Nam; con ông Nguyễn S, sinh năm 1949 và bà Hồ Thị Ch, sinh năm 1950 ; Hiện ở Thôn BM, xã PH, huyện B B, tỉnh Bình Thuận.
Chồng: Dụng Văn Hoài Ph, sinh năm 1977 và 03 con ( lớn nhất sinh 2000, nhỏ nhất sinh 2009)
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Đặng Thị Ti, sinh năm 1991( có mặt)
+ Mai Thị Bi, sinh năm 1991 ( có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn BH, xã PH, huyện B B, tỉnh Bình Thuận.
+ Lư Nữ Mộng B, sinh năm 1980 ( có mặt)
Địa chỉ: Thôn BTh, xã PH, huyện B B, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 55 phút ngày 03/01/2018, tại nhà Tạ Thị T, ở thôn BH, xã PH,
huyện B B. Công an huyện B B phối hợp cùng Công an xã PH phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thị Thái H, ở thôn BM, xã PH và Đặng Thị Ti, ở thôn BH, xã PH đang giao phơi ghi số đề cho Tạ Thị T. Cơ quan Công an lập B bản phạm tội quả tang và thu giữ 05 phơi số đề, trên mỗi phơi đề có ghi các số đề, lô đề và ghi ngày 03/01/2018, được đánh số thứ tự từ 1 đến 5, với tổng số tiền ghi trên các phơi đề là 12.144.000 đồng; (trong đó, có phơi đề số 4 đã sao chép các số đề, lô đề sang phơi đề số 3), các phơi đề nói trên được đánh theo kết quả xổ số của Công ty sổ xố kiến thiết tỉnh ST; thu giữ của Tạ Thị T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; thu giữ của Đặng Thị Ti 01 điện thoại di động hiệu FPT màu đỏ đen và tạm giữ Tạ Thị T. (BL số 09-18)
Qúa trình điều tra; Tạ Thị T khai nhận:Từ ngày 31/10/2017 đến ngày
03/01/2018, Tạ Thị T làm cái số đề, theo cách thức hàng ngày đến khoảng 15 giờ 30 phút những người ghi số đề, lô đề lẻ ( người bán đề), gồm: Nguyễn Thị Thái H; Đặng Thị Ti; Mai Thị Bi ở thôn BH, xã PH và Lư Nữ Mộng B ở thôn BTh, xã PH đem phơi đề đến nhà Tạ Thị T giao cho T, khi giao phơi đề H, Ti, Bi và B không giao số tiền bán được cho T mà chờ khi có kết quả xổ số kiến thiết trong ngày thì đối chiếu với các số đề, lô đề có trong phơi đề để xác định số trúng và số không trúng; sau đó xác định số tiền thắng, thua; nếu chủ cái thắng ( tức Tạ Thị T thắng) thì H, Ti, Bi và B giao tiền cho T và ngược lại; nếu chủ cái thua ( tức Tạ Thị T thua) thì T đưa tiền cho H, Ti, Bi và B để chung cho người trúng số đề, lô đề. Huê hồng T chỉ trả cho H , Ti, Bi và B 10% tổng số tiền bán số đề, lô đề.
Trong thời gian làm chủ cái số đề từ ngày 31/10/2017 đến ngày 02/01/2018 là
64 ngày; ( trong đó, T nghỉ 01 ngày 26/12/2017, để đi đám cưới) còn lại 63 ngày Tạ Thị T đã thu lợi bất chính trung bình mỗi ngày là 100.000 đồng, thành tiền: 6.300.000 đồng (BL số 47, 50).
Ngày 03/01/2018 Tạ Thị T làm chủ cái số đề , với hình thức đánh số đề, lô đề
như sau:
-Hình thức đánh đầu, đuôi 02 số: Là đánh 02 số của giải tám và 02 số cuối của giải đặc biệt trong kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh ST. Hình thức này, chủ cái tính lại tỷ lệ huê hồng cho người mua là 20%, nên khi người chơi mua 1.000 đồng/ 01 con số thì người ghi số đề ghi thành 1.200 đồng/ 01 con số. Tỷ lệ trúng số đề, được xác định theo tỷ lệ 1 ăn 70 ( tức là mua 1.000 đồng thì thắng được 70.000 đồng). T đã đánh bạc với nhiều người, gồm 412 con số, với số tiền là: 9.468.000 đồng.
-Hình thức đánh bao lô 02 số: Là đánh 02 số cuối của các lô từ giải tám đến giải đặc biệt ( gồm 18 lô) của kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh ST. Hình thức này, khi đánh người chơi phải trả tiền 14/18 lô ( tức là khi đánh bao lô với số tiền là 1.000 đồng thì người chơi phải trả 14.000 đồng), khi trúng xác định theo tỷ lệ 1 ăn 70 ( tức là mua 1.000 đồng thắng được 70.000 đồng). T đã đánh bạc với nhiều người, gồm 17 con số, với số tiền là: 1.843.000 đồng.
-Hình thức đánh đầu đuôi 03 số: Là đánh 03 số của giải bảy và 03 số cuối của
giải đặc biệt trong kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh ST. Hình thức này, chủ cái tính lại tỷ lệ huê hồng cho người mua 20%, nên khi người chơi mua 1.000 đồng/ 01 con số thì người ghi số đề ghi thành 1.200 đồng/ 01 con số. Tỷ lệ trúng số đề, được xác định theo tỷ lệ 1 ăn 500 ( tức là mua 1.000 đồng thắng được 500 ngàn đồng). T đã đánh bạc với nhiều người, gồm 52 con số, với số tiền là: 744.000 đồng.
-Hình thức đánh bao lô 03 số: Là đánh 03 số của các lô từ giải bảy đến giải đặc biệt ( gồm 17 lô) trong kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh ST. Hình thức này, khi đánh, người chơi phải trả tiền 14/17 lô ( tức là khi đánh bao lô với số tiền 1.000 đồng thì người chơi phải trả 14.000đồng), việc trúng được xác định theo tỷ lệ 1 ăn 500 ( tức là mua 1.000đồng thắng được 500.000đồng). T đã đánh bạc với nhiều người, gồm 05 con số, với số tiền là: 70.000 đồng.
-Hình thức đánh số đá (02 cặp số): Tức là người chơi mua 01 lúc 02 cặp số, khi đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết của tỉnh ST của 18 lô số, nếu có 02 cặp số trùng với số đã mua thì thắng, nếu chỉ có 01 cặp số hoặc không có cặp số nào trùng với 02 cặp số đã mua thì thua. Với hình thức này, người chơi khi mua 02 cặp số phải trả tiền theo tỷ lệ 1 trả 28 ( tức là mua 1.000 đồng phải trả 28.000 đồng), việc trúng được xác định theo tỷ lệ 1 ăn 500 ( tức là mua 1.000 đồng thắng được 500.000 đồng). T đã đánh bạc với 01 người, gồm 01 cặp số, với số tiền là: 28.000 đồng.
Đối với Nguyễn Thị Thái H khai nhận: Sau khi trao đổi và được Tạ Thị T đồng ý, H ghi số đề, lô đề lẻ cho những người mua số đề, lô đề ( không rõ họ tên), ở xã PH, huyện B B và đem phơi đề về giao nộp lại cho Tạ Thị T được 17 ngày ( từ ngày 07/12/2017 đến ngày 02/01/2018; trong đó, có 10 ngày H nghỉ, do bận việc gia đình). T trả tiền huê hồng cho H là 10%/số tiền bán được, trung bình là 90.000 đồng/ 01 ngày, thành tiền 1.530.000 đồng và lúc 15 giờ 55 phút ngày 03/01/2018, H ghi số đề, lô đề lẻ cho những người mua số đề, lô đề ( không rõ họ tên), ở xã PH, huyện B B; gồm 180 con số, với số tiền là 5.519.000 đồng, được thể hiện tại phơi đề số 3; những người mua số đề, lô đề đã trả cho H số tiền 2.500.000 đồng, H giữ lại số tiền này và chỉ giao phơi đề ( phơi số 3) cho T, T chưa trả tiền huê hồng thì bị bắt quả tang ( BL số 76-77).
Đặng Thị Ti có hành vi ghi số đề, lô đề lẻ cho những người mua số đề, lô đề (
không rõ họ tên), ở xã PH, huyện B B và đem phơi đề về giao nộp lại cho Tạ Thị T được 11 ngày ( từ ngày 21/12/2017 đến ngày 02/01/2018; trong đó, Ti nghỉ 02 ngày là ngày 26/12/2017 và ngày 29/12/2017 do bận việc gia đình). T trả tiền huê hồng cho Ti là 10%/số tiền bán được, trung bình là 80.000 đồng/ 01 ngày, thành tiền 880.000 đồng và lúc 15 giờ 55 phút ngày 03/01/2018, Ti ghi số đề, lô đề lẻ cho những người số đề, lô đề ( không rõ họ tên), ở xã PH, huyện B B; được thể hiện tại phơi đề số 5, với số tiền là: 1.710.000 đồng, những người nua số đề, lô đề đã trả cho Ti số tiền 420.000 đồng, Ti giữ lại số tiền này và chỉ giao phơi đề ( phơi số 5) cho T, T chưa trả tiền huê hồng thì bị bắt quả tang.
Lư Nữ Mộng B có hành vi ghi số đề, lô đề lẻ cho những người mua số đề, lô đề ( không rõ họ tên), ở xã PH, huyện B B; sau đó đem phơi đề giao cho T và được T trả tiền huê hồng 10%/số tiền bán được từ ngày 28/12/2017 đến ngày 02/01/2018 là 06 ngày ( trong đó, B nghỉ 01 ngày 29/12/2017, để đi đán cưới) còn lại 05 ngày, trung bình là 120.000đồng/ 01 ngày, thành tiền là 600.000đồng và ngày 3/01/2018, B ghi số đề, lô đề lẻ cho những người mua số đề (không rõ họ tên ở xã PH; được thể hiện tại phơi đề số 2, với số tiển là 3.473.000đồng, những người mua số đề, lô đề đã trả cho B số tiền 1.700.000 đồng, B giữ lại số tiền này và chỉ giao phơi đề ( phơi số 2) cho T, T chưa trả tiền huê hồng.
Mai Thị Bi có hành vi ghi số đề, lô đề lẻ cho những người mua số đề, lô đề (
không rõ họ tên), ở xã PH, huyện B B; sau đó đem phơi đề giao cho T và được T trả tiền huê hồng 10%/số tiền bán được của ngày 01/01/2018 là 75.000 đồng và ngày 02/01/2018 là 110.000 đồng, tổng cộng số tiền là 185.000 đồng và ngày 03/01/2018, Bi ghi số đề, lô đề lẻ cho những người mua số đề, lô đề ( không rõ họ tên), ở xã PH; được thể hiện tại phơi đề số 1, với số tiền là 1.442.000 đồng, những người mua số đề, lô đề đã trả cho Bi số tiền 320.000 đồng, Bi giữ lại số tiền này và chỉ giao phơi đề ( phơi số 1) cho T, T chưa trả tiền huê hồng.
Hành vi mua bán số đề, lô đề của Đặng Thị Ti, Lư Nữ Mộng B và Mai Thị Bi có số tiền dưới 5.000.000 đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội: Đánh bạc. Hơn nữa Ti, B và Bi chưa có tiền án, tiền sự về tội: Đánh bạc và tội: Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra về Công an huyện B B lập hồ sơ và có văn bản đề nghị Công an xã PH xem xét, xử lý hành chính đối với Ti, B và Bi là phù hợp quy định của pháp luật ( BL số 131).
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền thu nhập bất chính từ việc làm chủ cái số đề của Tạ Thị T là 6.300.000 đồng; số tiền thu nhập bất chính từ việc ghi số đề của Nguyễn Thị Thái H là 1.530.000 đồng, của Đặng Thị Ti là 880.000 đồng, của Mai Thị Bi là 185.000 đồng và của Lư Nữ Mộng B là 600.000 đồng nên buộc T, H, Ti, Bi và B giao nộp sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền ghi số đề, lô đề vào ngày 03/01/2018 do những người mua số đề, lô đề trả cho Nguyễn Thị Thái H số tiền 2.500.000 đồng; trả cho Đặng Thị Ti số tiền 420.000 đồng; trả cho Mai Thị Bi số tiền 320.000 đồng và trả cho Lư Nữ Mộng B số tiền 1.700.000 đồng. Đây là số tiền tham gia đánh bạc, nên buộc H, Ti, Bi và B giao nộp để sung công quỹ Nhà nước.
Tạ Thị T đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính là: 6.300.000 đồng;
Nguyễn Thị Thái H tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính là: 1.530.000 đồng cùng số tiền tham gia đánh bạc là 2.500.000 đồng và Lư Nữ Mộng B đã tự nguyện giao nộp lại số tiền tham gia đánh bạc là 440.000 đồng để sung đột công quỹ Nhà nước, tất cả số tiền tham gia đánh bạc nói trên đã được chuyển vào tài khoản tiền gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện B B để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di
động hiệu NOKIA màu đen của Tạ Thị T, là điện thoại của cá nhân T không dùng vào việc đánh bạc, nên xem xét trả lại cho T, hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện B B.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu FPT màu đỏ đen thu giữ của Đặng Thị Ti là điện thoại của cá nhân Ti không dùng vào việc đánh bạc, nên Cơ quan điều tra đã chuyển giao điện thoại trên cùng hồ sơ cho Công an xã PH xem xét, xử lý hành chính và giao trả lại cho Đặng Thị Ti.
Tại bản cáo trạng số 16/CT - VKSBB ngày 28/02/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện B B truy tố các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B B giữ nguyên Quyết định truy tố đối với các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H. Đề nghị Hội đồng xét xử : Tuyên bố bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H cùng phạm tội “Đánh bạc”; Đề nghị áp dụng như sau:
- Đối với bị cáo Tạ Thị T : Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i và s, khoản 1,
khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị mức án đối với bị cáo Tạ Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng , kể từ ngày tuyên án.
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thái H: Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i và s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị mức án đối với bị cáo Nguyễn Thị Thái H từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng , kể từ ngày tuyên án.
- Ngoài hình phạt chính, xét tháy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Tạ Thị T từ 12.000.000đồng đến 15.000.000đồng. Bị cáo Nguyễn Thị Thái H từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B B đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không đồng ý hình phạt bổ sung về tiền phạt.
Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại điện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B B,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi đánh bạc của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H đã thừa nhận vào lúc 15 giờ 55 phút ngày 03/01/2018 tại nhà Tạ Thị T ở thôn BH, xã PH, huyện B B. Do Tạ Thị T làm chủ cái số đề và đang thu gom 04 phơi đề (gồm phơi đề số 1,2,3 và 5) với số tiền 12.144.000đồng của Nguyễn Thị Thái H, Đặng Thị Ti, Lư Nữ Mộng B, Mai Thị Bi giao nộp và Nguyễn Thị Thái H trực tiếp ghi số đề, lô đề cho những người mua số đề, lô đề gồm 180 con số, với số tiền 5.519.000đồng giao nộp cho Tạ Thị T, T chưa trả tiền huê hồng thì bị bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó, Tạ Thị T là người trực tiếp thực
hiện hành vi phạm tội và Nguyễn Thị Thái H với vai trò là người giúp sức cho T thực hiện tội phạm.
Các bị cáo nhận thức được đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, pháp luật nghiêm cấm nhưng do tham lam , tư lợi các bị cáo đã phạm tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi đánh bạc của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng. gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự tại địa phương và gây nguy hiểm cho xã hội. Để ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm này, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự đối với các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trình độ văn hóa không có, thuộc dân tộc thiểu số, nhận thức về xã hội và pháp luật hạn chế. Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền thu nhập bất chính thể hiện sự ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo tự cải tạo với sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương là đủ.
Về hình phạt bổ sung: Cần phạt các bị cáo một khoản tiền với mức phạt phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Về trách nhiệm dân sự:
- Xét số tiền 6.300.000 đồng là số tiền thu lợi từ việc làm chủ cái số đề của
Tạ Thị T, số tiền thu lợi từ việc ghi số đề của Nguyễn Thị Thái H là
1.530.000đồng, của Đặng Thị Ti là 880.000đồng, của Mai Thị Bi là 185.000đồng,
của Lư Nữ Mộng B là 600.000đồng là số tiền thu nhập bất chính cần tịch thu để
sung quỹ nhà nước .
- Xét số tiền 2.500.000đồng là số tiền ghi số đề vào ngày 03/01/2018 do
những người mua số đề trả cho Nguyễn Thị Thái H ; trả cho Đặng Thị Ti số tiền
420.000đồng; trả cho Mai Thị Bi số tiền 320.000đồng và trả cho Lư Nữ Mộng B
số tiền 1.700.000đồng. Đây là số tiền tham gia đánh bạc nên buộc H , Ti, Bi và B
giao nộp để sung quỹ nhà nước.
- Các bị cáo Tạ Thị T đã tự nguyện giao nộp thu nhập bất chính số tiền
6.300.000đồng và Nguyễn Thị Thái H đã tự nguyện giao nộp thu nhập bất chính số tiền 1.530.000đồng cùng số tiền tham gia đánh bạc là 2.500.000đồng và Lư Nữ Mộng B đã tự nguyện giao nộp số tiền tham gia đánh bạc là 440.000đồng để sung công quỹ nhà nước đã chuyển vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự huyện B B .
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen của Tạ Thị T không sử dụng vào việc đánh bạc nên giao trả lại cho T. Hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành dân sự huyện B B.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu FPT màu đỏ đen của Đặng Thị Ti không sử dụng vào việc đánh bạc. Cơ quan điều tra đã chuyển giao điện thoại cùng hồ sơ cho Công an xã PH xem xét, xử lý hành chính và giao trả cho Ti.
Về án phí: Các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H cùng phạm tội
“ Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 17, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt : Bị cáo Tạ Thị T 09 tháng tù cho hưởng án treo.Thời gian thử
thách là 18 tháng , kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/5/ 2018.
Giao bị cáo Tạ Thị T cho UBND xã PH, huyện B B, tỉnh Bình Thuận quản lý và giáo dục. Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Thị Thái H 06 tháng tù cho hưởng án treo.Thời
gian thử thách là 12 tháng , kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/5//2018.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thái H cho UBND xã PH, huyện B B, tỉnh Bình
Thuận quản lý và giáo dục. Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Áp dụng: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền các bị cáo Tạ Thị T phải nộp 10.000.000đồng ( Mười triệu đồng) và Nguyễn Thị Thái H phải nộp 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 47 và ; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự ;
- Tịch thu số tiền 6.300.000 đồng tiền thu lợi của Tạ Thị T từ việc làm chủ cái số đề để sung quỹ nhà nước. Hiện đã chuyển vào tài khoản tiền gửi của Chi cục thi hành dân sự huyện B B (ngày 23/02/2018).
- Tịch thu số tiền 1.530.000đồng thu nhập bất chính từ việc ghi số đề. Hiện đã
chuyển vào tài khoản tiền gửi của Chi cục thi hành dân sự huyện B B (ngày 28/02/2018) và tịch thu số tiền cùng tham gia đánh bạc là 2.500.000đồng của Nguyễn Thị Thái H để sung quỹ nhà nước. Hiện đã chuyển vào tài khoản tiền gửi của Chi cục thi hành dân sự huyện B B (ngày 02/3/2018).
- Xử buộc Đặng Thị Ti phải nộp số tiền 880.000đồng là tiền có được từ việc ghi số đề, cùng số tiền tham gia đánh bạc là 420.000đồng để sung công quỹ nhà nước.
- Xử buộc Mai Thị Bi phải nộp số tiền 185.000đồng là tiền có được từ việc ghi số đề, cùng số tiền tham gia đánh bạc là 320.000đồng để sung công quỹ nhà nước.
- Xử buộc Lư Nữ Mộng B phải nộp số tiền 600.000đồng là tiền có được từ việc ghi số đề, cùng số tiền tham gia đánh bạc là 1.700.000đồng để sung công quỹ nhà nước. Hiện đã chuyển vào tài khoản tiền gửi của Chi cục thi hành dân sự huyện B B số tiền 440.000đồng (ngày 08/02/2018).
-Trả lại cho Tạ Thị T 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen không sử
dụng vào mục đích đánh bạc. Hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành dân sự huyện B B.(Theo B bản giao, nhận vật chứng ( ngày 05/3/2018).
Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo Tạ Thị T và Nguyễn Thị Thái H.
| Nơi nhận: -VKSND huyện B B; -Công an huyện B B; -Chi cục THADS huyện B B; -Bị cáo,người liên quan -Lưu HS+VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ THỊ PHƯỢNG |