vanban.org

Bản án 33/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 21/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2018/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Xử phạt tiền đối với bị cáo Vũ Thị L 30.000.000đ ( ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2018/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HS-PT
Ngày 21-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Biên Hòa.

Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Ương,

Ông Mã Văn Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Duy Phong, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Diệu Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2018/TLPT-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Vũ Thị L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2018/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Vũ Thị L, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1966; Nơi sinh: Xã H, huyện L, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn H (đã chết) và bà Đặng Thị A (sinh năm 1926); Có chồng là: Nguyễn Chí T (sinh năm 1962) và có 02 con: Con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1999; Tiền án: Có 01 (một) tiền án, ngày 21-9-2016 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng xử phạt 10.000.000đ (Mười triệu đồng) về tội "Đánh bạc"; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 25-02-2018 Vũ Thị L đi ăn cháo tại khu chợ thuộc thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Trên đường quay về, khi đi qua nhà ông Nông Văn M tại tổ dân phố 3 thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng thấy nhiều người đang ngồi chơi, uống rượu tại nhà ông M, L vào nhà ông M chơi. Khi đó, tại nhà ông M có ông Sầm Phúc V, bà Hoàng Thị K, ông Toán Văn T, ông Phương Tiểu L. Ngồi chơi được một lúc thì L, V, T, K cùng nhau đánh phỏm (còn gọi là đánh ù) được thua bằng tiền, mức được thua theo tỉ lệ: Nhì 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng), ba 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng), bét 60.000đ (Sáu mươi nghìn đồng), cháy (móm) 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng), ù 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Ông M và ông L không tham gia đánh phỏm mà ngồi bên cạnh uống rượu. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng đang làm nhiệm vụ tại tổ dân phố 3 thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang đối tượng Vũ Thị L, Sầm Phúc V, Toán Văn T, Hoàng Thị K về hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm tại nhà ông Nông Văn M. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng đã lập biên bản và thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 2.650.000đ (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); 42 (Bốn mươi hai) lá bài tú lơ khơ. Ngoài ra, còn có 04 (Bốn) chiếc điện thoại di động, xét thấy không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Đối với các đối tượng Sầm Phúc V, Toán Văn T, Hoàng Thị K có hành vi đánh bạc cùng Vũ Thị L tại nhà Nông Văn M, trong quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 2.650.000đ (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) chưa đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với V, T, K bằng hình thức phạt tiền, phạt mỗi đối tượng với số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Đối với Nông Văn M có hành vi sử dụng nhà của mình để chứa bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với M bằng hình thức phạt tiền, với số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Riêng đối với Vũ Thị L, bị bản án số 22/2016/HSST ngày 21-9-2016 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng xử phạt 10.000.000đ (Mười triệu đồng) về tội "Đánh bạc"; Đến tháng 7-2017 mới chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi đánh bạc của Vũ Thị L đã bị khởi tố, điều tra theo quy định của pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2018/HS-ST ngày 04-7-2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Thị L 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình.

Ngoài ra bản án còn quyết đi ̣nh về xử lý vật chứng, nghia vu ̣̃

nô ̣p án phi

́ và quyền kháng cáo của bi ̣ cáo theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Ngày 12-7-2018, bị cáo Vũ Thị L kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại mức án của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin được xử phạt tiền là hình phạt chính. Bị cáo thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng. Bị cáo biết hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng hình phạt 06 tháng tù là quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tiền là hình phạt chính thay cho hình phạt tù.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12-7-2018 bị cáo Vũ Thị L kháng cáo bản án số: 18/2018/HS-ST ngày 04-7-2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng đề nghị tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại mức án của bị cáo, đơn kháng cáo được gửi trong thời hạn kháng cáo, có đầy đủ nội dung theo quy định. Do vậy, đơn kháng cáo của Vũ Thị L là hợp pháp. Về nội dung kháng cáo, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Vũ Thị L 06 (sáu) tháng tù về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính. Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền đánh bạc không lớn, mục đích tham gia đánh bạc là sát phạt nhau, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là phạt tiền, xử phạt Vũ Thị L từ 20.000.000,0đ (hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000,0đ (hai mươi lăm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước. Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến đối đáp lại, nhất trí với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, mong Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Vũ Thị L có kháng cáo; xét đơn kháng cáo của bị cáo viết trong hạn luật định và thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [2] Vào khoảng 21 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút, ngày 25-02-2018 tại nhà ở của ông Nông Văn M thuộc tổ dân phố 3 thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng, bị cáo Vũ Thị L cùng với ông Sầm Phúc V; bà Hoàng Thị K; ông Toán Văn T đang có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền với hình thức đánh phỏm thì bị tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ số tiền trên chiếu bạc gồm 42 (Bốn mươi hai) lá bài tú lơ khơ; tiền mặt 2.650.000đ (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo Vũ Thị L khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người làm chứng: Nông Văn M, Sầm Phúc V, Toán Văn T, Phương Tiểu L, Hoàng Thị K. Nhân thân bị cáo Vũ Thị L có 01 tiền án vể tội đánh bạc chưa được xóa tích, cụ thể: tại Bản án số 22/2016/HSST ngày 21-9-2016 Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo Vũ Thị L 10.000.000đ (Mười triệu đồng) về tội "Đánh bạc"; đến tháng 7-2017 bị cáo Lan mới chấp hành xong hình phạt. Với hành vi như trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vũ Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin được phạt tiền là hình phạt chính của bị cáo Vũ Thị L: Ta ̣i phiên tòa phúc thẩm, bi ̣ cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tham gia đánh bạc với số tiền không lớn thu trên chiếu bạc của 4 người số tiền 2.650.000đ (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Xét thấy Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Vũ Thị L 06 (sáu) tháng tù là quá nghiêm khắc so với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Mục đích của bị cáo tham gia đánh bạc là sát phạt nhau để trục lợi. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp với khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự. Do vậy, xét thấy kháng cáo xin được phạt tiền của bị cáo Vũ Thị L là có căn cứ, cần chấp nhận và chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là phạt tiền đối với bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L, sửa bản án sơ thẩm chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là phạt tiền. Đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Do kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L được Tòa án chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2018/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt tiền đối với bị cáo Vũ Thị L 30.000.000đ ( ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ