vanban.org

Bản án 33/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hoàng Thanh H được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.

Về quan hệ con chung: Giao cho 02 con chung tên Huỳnh Thanh H1, sinh ngày 26/03/2002 và Huỳnh Thị Thùy T sinh ngày 13/4/2007 cho ông Hoàng Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị D được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hoàng Thanh H được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15-8-2018.
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tán Nghị

2. Bà Lê Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên toà: Ông Trương Công Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Thanh H, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ 3 thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1979; nơi cư trú cuối cùng: Tổ 3 thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, ông Hoàng Thanh H trình bày về yêu cầu khởi kiện: Ông và bà Nguyễn Thị D kết hôn với nhau vào ngày 27/9/2003 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng ngày 18 tháng 01 năm 2011 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do bà D có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác và tự ý bỏ nhà đi từ đó không trở về nhà. Ông đã nhiều lần tìm kiếm và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tuyên bố mất tích năm 2016. Nay, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.

Về quan hệ con chung: Ông Hoàng Thanh H xác nhận vợ chồng có 2 con chung tên là Huỳnh Thanh H1, sinh ngày 26/03/2002 và Huỳnh Thị Thùy T sinh ngày 13/4/2007 đang sống cùng ông H. Ly hôn, ông H yêu cầu tiếp tục được nuôi con và không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ ông Hoàng Thanh H cung cấp cho Tòa án: Trích lục kết hôn số 295/TLKH-BS ngày 15/5/2018 của UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, bản sao giấy khai sinh của 02 con và Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2016/QĐST-DS ngày 24/5/2016 của TAND huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho ông Hoàng Thanh H được ly hôn với bà Nguyễn Thị D; giao 02 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng; bà D không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi tiến hành thủ tục thụ lý vụ án, TAND huyện Hòa Vang đã niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời xác minh tình trạng cư trú của bà Nguyễn Thị D tại địa phương, xác định bà D đi khỏi nơi cư trú 7 năm nay không về, hiện bà D làm gì, ở đâu không ai biết. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Thanh H và bà Nguyễn Thị D tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 27/9/2003 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, nên đây là hôn nhân hợp pháp, được Nhà nước công nhận và pháp luật bảo vệ. Ông Hoàng Thanh H và bà Nguyễn Thị D sống chung tại thôn Nam Sơn, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang đến tháng 01 năm 2011 thì bà D bỏ nhà đi đến nay không về. Ngày 24/5/2016, Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã tuyên bố bà Nguyễn Thị D mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2016/QĐST-DS nên yêu cầu ly hôn của ông Hoàng Thanh H đối với bà Nguyễn Thị D được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho ông Hoàng Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Huỳnh Thanh H1, sinh ngày 26/03/2002 và Huỳnh Thị Thùy T sinh ngày 13/4/2007; bà Nguyễn Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) ông Hoàng Thanh H phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 56, các Điều 81, 82, 82 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Hoàng Thanh H được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho 02 con chung tên Huỳnh Thanh H1, sinh ngày 26/03/2002 và Huỳnh Thị Thùy T sinh ngày 13/4/2007 cho ông Hoàng Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị D được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Hoàng Thanh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số 0006415 ngày 18/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang; ông H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Ông Hoàng Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ tuyên án sơ thẩm (ngày 15/8/2018). Bà Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án niêm yết công khai bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ