vanban.org

Bản án 33/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V đối với bị đơn ông Đặng Văn H về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Đặng Văn H. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/4/2014. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị V về việc không yêu cầu ông Đặng Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị V - Đăng Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V đối với bị đơn ông Đặng Văn H về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
T A N NH N D N
H N D T NG
T NH B NH D NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13-9-2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

N C C NG H A

H CH NGH A V T NAM

T A N NH N D N H N D T NG, T NH B NH D NG

- Thành ph n H i đ ng t s th m g m c :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Vui;

2. Bà Nguyễn Thị Thông.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tuyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dư ng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương x t xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 198/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2018 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số 35/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974. Hộ khẩu thường trú: Ấp H1, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương (có mặt).

- Bị đơn: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1987. Hộ khẩu thường trú: Ấp H1, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt không có lý do).

N D NG VỤ N:

- Tại đơn khởi kiện ngày 10/4/2018, bản tự khai ngày 16/4/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn bà V trình bày: Bà V và ông H sống chung với nhau từ năm 2012. Việc sống chung với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không ai p buộc, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì không hạnh phúc nữa. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau về các vấn đề trong cuộc sống. Bà V đã cố gắng nhẫn nhịn, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không được. Hiện nay, bà V và ông H đã sống ly thân với nhau. Nay tình cảm vợ chồng đã không còn, vì vậy bà V yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà V và ông H có 01 con chung tên Đặng Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/4/2014. Khi ly hôn bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Đặng Văn H đã được được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng x t xử và nguyên đơn trong suốt quá trình tố tụng là đúng quy định pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt không tham gia làm việc, hoà giải, x t xử mà không có lý do là chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng x t xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH C A H ĐỒNG ÉT Ử:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đang cư trú tại xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn là ông Đặng Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng x t xử tiến hành x t xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà V và ông H chung sống với nhau từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. X t thấy, hiện bà Vàng và ông Hương đã sống ly thân với nhau, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể k o dài. Ông H không có thiện chí đến Tòa án để hòa giải đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà V là có căn cứ nên Hội đồng x t xử chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Bà V và ông H có 01 con chung tên Đặng Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/4/2014. X t thấy, hiện cháu A dưới 07 tuổi và đang được bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nên việc giao cháu A cho bà V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, không gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ; bà V tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng x t xử ghi nhận theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng x t xử không xem x t.

- Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng x t xử chấp nhận.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

Q T ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 117, 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V đối với bị đơn ông Đặng Văn H về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Đặng Văn H.

- Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 21/4/2014. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị V về việc không yêu cầu ông Đặng Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nguyễn Thị V và ông Đặng Văn H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đên việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.00 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà V đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0011617 ngày 10 tháng 4 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./. N i nhận:

Cỡ chữ