- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Nguyễn Văn H xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31/10/2018 “V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N HUYỆN B-TỈNH BÌNH PHƢỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Trương Đình Bắc
Bà: Điểu Thị Hương
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Dạ
Thảo – Kiểm sát viên (vắng mặt).
Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H - sinh năm: 1973 (có mặt)
2. Bị đơn: Bà Đào Thị O - sinh năm: 1984 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp 03, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn yêu cầu ly hôn và các biên bản làm việc, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Đào Thị O kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 25/8/2009. Từ khi lấy nhau vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống và nhiều vấn đề khác không đồng thuận nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do tính tình hai vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do đó, vợ chồng không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do không thể hòa giải nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân nên ông Nguyễn Văn H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đào Thị O.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Đào Thị O có với nhau 02 (hai) con chung tên Nguyễn Xuân B, sinh ngày 09/4/2004 và Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 18/10/2005, hiện 02 (hai) cháu đang sống cùng với ông Nguyễn Văn H. Ông Nguyễn Văn H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 (hai) con chung cho đến khi con chung trưởng thành, tự lao động được, không yêu cầu bà Đào Thị O cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Đào Thị O vắng mặt tại các buổi làm việc và tại Tòa hôm nay. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên không có trình bày gì.
Tại các biên bản làm việc giữa Tòa án nhân dân huyện B với Ấp trưởng ấp 03, xã A là ông Nguyễn Thanh C, ông cho biết gia đình vợ chồng ông Nguyễn Văn H bà Đào Thị O có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, trong quá trình chung sống giữa Nguyễn Văn H bà Đào Thị O cũng thường xảy ra những mâu thuẫn, hay cãi vã, bất đồng quan điểm sống, Ban điều hành ấp cũng đã tiến hành hòa giải động viên hai vợ chồng khắc phục tình trạng trên để tiếp tục chung sống chăm lo cho các con. Tuy nhiên, được một thời gian ngắn thì ông Nguyễn Văn H, bà Đào Thị O lại xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không được thoải mái, không hạnh phúc. Hiện nay, các con chung đang sống cùng với ông Nguyễn Văn H, cuộc sống của các con chung ổn định và học tập tốt.
Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa và thông qua nghị án, HĐXX nhận định
Về pháp luật tố tụng:
Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H thuộc trường hợp “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 01 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đang cư trú và có đăng ký hộ khẩu tại xã A, huyện B. Căn cứ điểm a khoản 01 Điều 33, điểm a, khoản 01 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.
Bà Đào Thị O vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành các thủ tục xác minh, niêm yết văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn theo quy định của pháp luật, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn.
Về pháp luật nội dung:
Ông Nguyễn Văn H và bà Đào Thị O tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn vào ngày 25/8/2009 tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước. Xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn, vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Đào Thị O thường phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, bà Đào Thị O không quan tâm chăm sóc gia đình, vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay mà không hàn gắn được. Nên Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn H và bà Đào Thị O đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.
Về con chung: trong quá trình chung sống vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Đào Thị O có với nhau 02 (hai) con chung tên Nguyễn Xuân B, sinh ngày 09/4/2004 và Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 18/10/2005, hiện nay 02 (hai) cháu đã đi học và có cuộc sống ổn định cùng với ông Nguyễn Văn H, từ ngày hai vợ chồng sống ly thân bà Đào Thị O không chăm lo giáo dục con chung, tại các biên bản tự ghi lời khai các cháu Bình, Minh đều có nguyện vọng được sống chung với ông Nguyễn Văn H. Căn cứ vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và để đảm bảo sự sinh hoạt phát triển bình thường về mọi mặt của trẻ, cần chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H, giao 02 (hai) con chung cho ông Nguyễn Văn H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, tự lao động được. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà Đào Thị O vắng mặt tại phiên tòa nên không có yêu cầu, ông Nguyễn Văn H cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH của ủy ban thường vụ quốc hội. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 232 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH của Ủy ban thường vụ quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn Hòa được ly hôn với bà Đào Thị O.
2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên tên Nguyễn Xuân B, sinh ngày 09/4/2004 và Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 18/10/2005 cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi 02 (hai) cháu trưởng thành, tự lao động được. Bà Đào Thị O được quyền đi lại thăm nom con chung không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0016006 ngày 03/8/2018.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niên yết công khai tại nơi cư trú.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã A; - Các đương sự; - Lưu. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Văn Lƣợng |