vanban.org

Bản án 33/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X, xử cho chị Nguyễn Thị X ly hôn anh Trịnh Xuân Q.

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị X tiếp tục nuôi con là Trịnh Nguyễn Bảo An, sinh ngày 12/01/2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị X tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở. Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X, xử cho chị Nguyễn Thị X ly hôn anh Trịnh Xuân Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2017/HNGĐ-ST
Ngày 13-12-2017
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Đại - kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 255/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2017 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 36/2017/QĐXX-ST ngày 22/11/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2017/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2017 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1989;

Đăng ký HKTT: Thôn N, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng.

Bị đơn: Anh Trịnh Xuân Q, sinh năm 1982;

Đăng ký HKTT và hiện trú tại: Thôn N, xã T, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng.

Người làm chứng: Bà Đỗ Thị S, sinh năm 1948; trú tại: Thôn N, xã T, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng.

Chị X có mặt, anh Q, bà Sót vắng mặt lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 12/10/2017, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trịnh Xuân Q kết hôn với nhau vào ngày 18/12/2013 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị sống cùng anh Q tại gia đình anh Q ở thôn N, xã T, huyện T1. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q chơi bời, không tu chí làm ăn dẫn đến nợ nần nhiều, anh Q không quan tâm đến vợ con. Mặc dù đã đƣợc hai bên gia đình khuyên bảo nhiều lần nhƣng anh Q không thay đổi tính nết nên từ tháng 7/2016, chị đã phải đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã Đ, huyện T1 sống. Từ đó chị và anh Q sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai nữa. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh Q.

Về quan hệ con chung: Chị và anh Q có một con chung là Trịnh Nguyễn Bảo An, sinh ngày 12/01/2015, từ khi anh chị ly thân nhau, cháu An vẫn ở cùng chị. Nguyện vọng của chị xin đƣợc nuôi con và yêu cầu anh Q phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị và anh Q không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt các văn bản, tài liệu cho bị đơn là anh Trịnh Xuân Q và nhiều lần triệu tập anh Q đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhƣng anh Q không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị X.

Tòa án tiến hành làm việc với lãnh đạo UBND xã T, đại diện Hội phụ nữ xã và trƣởng thôn N, xã T để xác minh tình trạng hôn nhân của chị X và anh Q. Tại biên bản xác minh ngày 09/11/2017, đại diện lãnh đạo xã cùng đại diện ban, hội của địa phƣơng đều xác nhận anh Q và chị X chung sống hạnh phúc một thời gian thì anh Q không quan tâm đến gia đình, không tu chí làm ăn, thƣờng chơi lô đề, cờ bạc và nợ nần nhiều. Khoảng hơn một năm nay, chị X đã đƣa con về nhà mẹ đẻ ở, còn anh Q không thƣờng xuyên có mặt ở nhà. Nay chị X xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị X đƣợc ly hôn anh Q.

Đại diện cơ quan quản lý gia đình và trẻ em ở địa phƣơng cũng xác nhận chị X và anh Q ly thân nhau đã lâu, anh Q không thƣờng xuyên có mặt tại địa phƣơng, còn chị X vẫn đang trực tiếp nuôi con nên đề nghị Tòa án giao con cho chị X tiếp tục nuôi dƣỡng để đảm bảo quyền lợi cho cháu.

Ngƣời làm chứng là bà Đỗ Thị Sót (là mẹ anh Q) trình bày từ đầu năm 2016, chị X và anh Q đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, anh Q không quan tâm đến vợ con, từ tháng 7/2016, chị X đã đƣa con về nhà mẹ đẻ sống, anh chị ly thân nhau từ đó đến nay, anh Q thƣờng đi đâu bà không rõ, thỉnh thoảng mới về nhà.

Toà án đã tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ án theo quy định của pháp luật nhƣng anh Q không đến tham gia nên vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 06/12/2017, bị đơn là anh Trịnh Xuân Q đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.

Tại phiên toà, chị X vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Q và giải quyết việc nuôi con chung, chị tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dƣỡng nuôi con cùng chị, ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác. Anh Q đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị X có mặt, anh Q vắng mặt lần hai không có lý do, HĐXX đã căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn và đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ của mình, bị đơn, ngƣời làm chứng không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hƣớng giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi, xử cho chị X ly hôn anh Q và giao cháu Trịnh Nguyễn Bảo An cho chị X nuôi dƣỡng, anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị X; về án phí: chị X phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Trịnh Xuân Q đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X và anh Trịnh Xuân Q tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T1 vào ngày 18/12/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống, do anh Q không tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con nên anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, từ tháng 7/2016, chị X đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở và anh chị ly thân nhau từ đó đến nay. Anh Q nhiều lần đƣợc triệu tập đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị X nhƣng không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ cũng đề nghị HĐXX xử cho chị X đƣợc ly hôn anh Q. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị X và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị X, xử cho chị X đƣợc ly hôn với anh Q.

Về quan hệ con chung: con chung của chị X và anh Q là cháu Trịnh Nguyễn Bảo An, sinh ngày 12/01/2015 (dƣới 36 tháng tuổi), từ khi anh chị ly thân nhau đến nay, cháu An vẫn do chị X trực tiếp nuôi dƣỡng và chị X có nguyện vọng tiếp tục đƣợc nuôi con. Đại diện UBND xã T (cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình ở địa phƣơng) cũng đề nghị Tòa án giao con cho chị X nuôi dƣỡng để đảm bảo quyền lợi cho cháu nhỏ. Do đó, HĐXX thấy cần thiết tiếp tục giao cháu Trịnh Nguyễn Bảo An cho chị X nuôi dƣỡng và chăm sóc, phù hợp với đề nghị của đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ. Chị X tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dƣỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung: Các đƣơng sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị X là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X, xử cho chị Nguyễn Thị X ly hôn anh Trịnh Xuân Q.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị X tiếp tục nuôi con là Trịnh Nguyễn Bảo An, sinh ngày 12/01/2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị X tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AB/2014/0002069 ngày 13/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.

4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ