- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 329/2022/HS-ST Ngày: 14 - 11- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bạn
2. Ông Lưu Văn Có
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bạch Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 394/2022/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 321/2022/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 đối với:
Bị cáo Lê Duy M, sinh năm 1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu tập thể Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh H và bà Cái Ngọc Quỳnh A; tiền án, tiền sự: không: nhân thân: Bản án số 323/HSST ngày 09/12/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2016. Đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 16/7/2022; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Minh H; nơi cư trú: đường V, phường VP, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/7/2022, trong khi đang tuần tra tại khu vực Tổ 20 Trường Phúc, P. Vĩnh Phước, Tp. Nha Trang, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Tp. Nha Trang phối hợp với Công an phường Vĩnh Phước, Tp. Nha Trang phát hiện Lê Duy M có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu kiểm tra giấy tờ tùy thân. Quá trình kiểm tra, Lê Duy M tự giao nộp cho Tổ công tác 03 (ba) đoạn ống hút nước bằng nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong 02 (hai) đoạn có chứa chất bột màu trắng và 01 (một) đoạn chứa tinh thể màu trắng. M khai nhận các đoạn ống hút trên chứa chất ma túy “heroin” và ma túy “đá” M mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong tang vật và đưa M về trụ sở Công an phường Vĩnh Phước làm việc.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 16/7/2022, M lên khu vực “lầu 7” thuộc Tổ 20 Trường Phúc, phường Vĩnh Phước, Tp. Nha Trang tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Minh gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) hỏi mua được 02 (hai) tép ma túy “heroin” và 01 (một) tép ma túy “đá” với giá 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi có ma túy, M cầm trên tay rồi đi bộ xuống dốc thì bị phát hiện, bắt giữ như trên.
Tại Bản Kết luận giám định số 293/GĐ-GT/2022/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: mẫu vật ký hiệu A gửi đi giám định, gồm: Chất bột nén màu trắng trong 02 đoạn ống hút nhựa dài 1,5cm có tổng khối lượng 0,1507g là (loại) Heroin; tinh thể màu trắng trong 01 đoạn ống hút nhựa kích thước (01x1,5)cm có khối lượng 0,0156g là (loại) Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 323/2022/CT-VKS-NT ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Lê Duy M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Lê Duy M đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lê Duy M mức 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Duy M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ. Do đó, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Lê Duy M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc khoảng 09 giờ 40 phút ngày 16/7/2022; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 293/GĐ-GT/2022/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/7/2022, tại khu vực Tổ 20 Trường Phúc, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, bị cáo Lê Duy M đang tàng trữ trái phép 0,1507g (không phẩy một năm không bảy gam) Heroin và 0,0156g (không phẩy không một năm sáu gam) Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ. Tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,1663g (không phẩy một sáu sáu ba gam). Khối lượng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;
Do đó, Cáo trạng số 323/2022/CT-VKS-NT ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ chất ma túy bị pháp luật cấm nhưng vẫn mua để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Về nhân thân: Năm 2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo Bản án số 323/HSST ngày 09/12/2014. Sau khi chấp hành án xong bị cáo không lo tu chí làm người lương thiện mà lại sa vào con đường nghiện ngập và tiếp tục phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn, khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm về với gia đình và trở thành người có ích cho xã hội.
Kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp tục điều tra, đối tượng là người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo (hiện chưa xác định được lai lịch) để xử lý theo đúng quy định.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Duy M 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2022.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố Nha Trang; - Công an thành phố Nha Trang; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Chi cục THADS. TP. Nha Trang; - Lưu án văn, VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Tùng |