vanban.org

Bản án 329/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Vi Văn P phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo phạm tội giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B DƢƠNG
Bản án số: 329/2020/HS-ST
Ngày 30 - 11 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH B DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thiện;

2. Ông Nguyễn Văn Đảm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 325/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 336/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Vi Văn P, sinh ngày 25 tháng 4 năm 2000 tại tỉnh Nghệ An; nơi cƣ trú: Bản Lƣu P, xã Lƣu K, huyện T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: 32 Bùi Công T, ấp 3, xã Đông T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn V, sinh năm 1964 và bà Lƣơng Thị S, sinh năm 1965; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 06/02/2020). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Ông Nguyễn Công L, sinh năm 2000, nơi cƣ trú: Tổ 10, Định X, xã Vĩnh Q huyện V, tỉnh B Định. Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1978, nơi cƣ trú: Tổ 10, Định X, xã Vĩnh Q, huyện Vĩnh T, tỉnh Bình Định, là đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 26/11/2020. Có mặt.

2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994, chết ngày 13/10/2019. Ngƣời đại diện hợp pháp của ông Đ: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1958 và bà Trần Thị T, sinh năm 1965; cùng nơi cƣ trú: 120 ấp Hai L, xã Ngọc H, huyện Giồng R, tỉnh Kiên Giang. Ông S ủy quyền cho bà T tham gia tố tụng. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1996, nơi cƣ trú: Thôn An N, xã V, huyện V, tỉnh B Định. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1978, nơi cƣ trú: Tổ 10, Định X, xã Vĩnh Q, huyện Vĩnh T, tỉnh B Định. Có mặt.

3. Ông Nguyễn Thái B, sinh năm 1972, nơi cƣ trú: Luật B, xã Phƣớc Q, huyện T, tỉnh B Định. Vắng mặt.

4. Bà Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1994, nơi cƣ trú: 102 ấp Vĩnh N, xã Vĩnh B, huyện Vĩnh T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2002. Vắng mặt.

2. Ông Trần Nhật H, sinh năm 2003. Có mặt.

3. Bà Tiết Thị Mỹ D, sinh năm 1980. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 29/9/2019, Vi Văn P điều khiển xe mô tô biển số 65L1 – 242.02 chở theo phía sau ông Nguyễn Văn Đ lƣu thông trên đƣờng Đông Nhì hƣớng từ đƣờng Nguyễn Văn Tiết về chợ Lái Thiêu, khi đi đến đoạn đƣờng trƣớc số nhà 9/8 đƣờng Đông Nhì, khu phố Đông Nhì, phƣờng Lái Thiêu, do P nhìn thấy có một xe ô tô con (không xác định rõ biển số) đang lƣu thông phía trƣớc nên P muốn vƣợt lên. Lúc này P điều khiển xe lƣu thông sang làn đƣờng bên trái dẫn đến va chạm vào bên trái của xe mô tô biển số 77S9 – 7137 do ông Nguyễn Công L, sinh năm 2000 chở theo sau ông Nguyễn Văn H đang lƣu thông đúng phần đƣờng theo hƣớng ngƣợc lại. Hậu quả làm ông L và ông H té ngã xuống đƣờng bị thƣơng, còn ông Đ ngồi sau xe của P cũng té ngã xuống đƣờng rồi tử vong sau cấp cứu.

Sau tai nạn hiện trƣờng để lại nhƣ sau:

Hiện trƣờng là đƣờng Đông Nhì thuộc khu phố Đông Nhì, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng. Mặt đƣờng rộng 07m đƣợc trải nhựa phẳng, thẳng. Đoạn đƣờng đƣợc chia thành hai chiều xe lƣu thông bởi dãy vạch sơn đứt quãng ở giữa, mỗi chiều đƣờng rộng 3,5m.

Xe mô tô hai bánh biển số 65L1-242.02 nằm trên vỉa hè mép lề phải đầu xe quay về hƣớng đƣờng Nguyễn Văn Tiết, trục trƣớc xe cách mép phải 0,95m và cách trụ điện trƣớc số nhà 9/8 Đông Nhì khoảng cách 3,6m, cách trục sau mép phải 0,2m.

Xe mô tô hai bánh biển số 77S9-7137 nằm ngã nghiêng bên phải trên chiều đƣờng đi về đƣờng Nguyễn Văn Tiết đầu xe hƣớng về đƣờng Nguyễn Văn Tiết, trục trƣớc xe cách mép phải 4 là 18,5m.

Tại bản kết L giám định pháp y tử thi số 605/KL-KTHS ngày 15/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết L nhƣ sau: Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Văn Đ là do: Chấn thƣơng sọ não.

Tại bản kết L giám định pháp y về thƣơng tích số 604/2019/GĐPY ngày 27/12/2019 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh B Dƣơng kết L: Ông Nguyễn Công L bị gãy 1/3 giữa xƣơng cánh tay trái, đang kết hợp xƣơng, tổn thƣơng dây thần kinh quay trái; cụt 1/3 trên cẳng chân trái, mỏm cụt lành. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên là 63%.

Tại bản kết L giám định số 171/GĐCH-PC09 ngày 28/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Dƣơng kết L nhƣ sau:

- Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô hai bánh biển số 77S9-7137 với xe mô tô hai bánh biển số 65L1-242.02 là dấu vết cong, trƣợt xƣớc cạnh phải vành và lốp bánh trƣớc có chiều từ mặt lăn vào trong, vết trƣợt xƣớc đầu trục trƣớc bên trái có chiều từ trƣớc về sau của xe mô tô biển số 77S9-7137 phù hợp va chạm với mặt trƣớc ngoài lốc máy bên trái, đầu cần số trƣớc, gác chân trƣớc bên trái xe mô tô biển số 65L1-242.02; Dấu vết vỡ ốp nhựa đầu xe, bửng trái xe mô tô biển số 77S9-7137 phù hợp va chạm với tay cầm trái, bên trái đầu xe mô tô biển số 65L1-242.02.

- Dấu vết mài mòn các chi tiết bên trái gồm: Đầu tay cầm, tay phanh, ốp nhựa, gác chân trƣớc, gác chân sau, ốp nhựa ống xả xe mô tô biển số 65L1-242.02 và các chi tiết bên phải gồm cạnh ngoài chân phanh, gác chân trƣớc, tay nắm sau yên của xe mô tô 77S9-7137 phù hợp va chạm với mặt đƣờng.

- Cơ chế hình thành dấu vết trên các phƣơng tiện là: Xe mô tô biển số 65L1-242.02 đang lƣu thông trên đƣờng Đông Nhì thì va chạm với xe mô tô biển số 77S9-7137 theo chiều ngƣợc lại bên trái làm xe mô tô biển số 65L1-242.02 đổ ngã sang trái, xe mô tô 77S9-7137 đổ ngã sang phải va chạm với mặt đƣờng, tạo ra các dấu vết trên hai phƣơng tiện, gây ra vụ tai nạn giao thông trên.

Kết quả xét nghiệm sinh hóa tại Trung tâm y tế thị xã (nay là thành phố) Thuận An lúc 22 giờ 07 phút ngày 29/09/2019, kiểm tra nồng độ cồn trong máu đối với Vi Văn P là 169,18mg/dl.

Quá trình điều tra ông Nguyễn Văn H từ chối giám định thƣơng tích và không yêu cầu xử lý đối với Vi Văn P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Thuận An đã ra quyết định trƣng cầu giám định tỷ lệ thƣơng tích và ra quyết định dẫn giải đối với ông Nguyễn Văn H, nhƣng ông H đã từ chối giám định thƣơng tích và không chấp hành quyết định dẫn giải.

Cáo trạng số 335/CT-VKS-TA ngày 04/11/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng đã truy tố bị cáo Vi Văn P về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự; Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thƣờng thiệt hại; bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Vi Văn P mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét

Tại phiên tòa, bị cáo khai nH toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải nên xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Công L là bà Nguyễn Thị O đồng thời bà O là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất trình bày: Bà Nguyễn Thị O là mẹ ruột của ông Nguyễn Công L. Sự việc xảy ra ngày 29/9/2019 không ai mong muốn, hiện tại ông L sức khỏe yếu, chân bị teo lại nhƣng vẫn còn sống là hạnh phúc của gia đình. Đối với bị cáo Vi Văn P đã bồi thƣờng cho gia đình số tiền 20.000.000đồng (hai mƣơi triệu đồng), bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cũng bị gãy xƣơng hàm mặt nên bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì nữa và chỉ mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo còn cơ hội sửa sai. Đối với xe mô tô hai bánh biển số 77S9-7137 do ông Nguyễn Thái B đứng tên giấy chứng nH đăng ký xe, ông B đã bán xe môtô trên cho bà Nguyễn Thị O là mẹ của Nguyễn Công L, nhƣng không làm thủ tục sang tên, nay xe mô tô hai bánh biển số 77S9-7137 là tài sản thuộc sở hữu của bà O nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà O, bà O không có bất kỳ yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Bích T trình bày: Đối với xe môtô hai bánh biển số 65L1-242.02 do bà Huỳnh Thị Bích T đứng tên giấy chứng nH đăng ký xe là tài sản của bà T. Bà T là ngƣời làm cùng công ty với Vi Văn P, vào ngày 29/9/2019, bà T cho P mƣợn xe mô tô trên để đi lại nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà T. Vì vậy, bà T không có bất kỳ yêu cầu gì khác.

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH định nhƣ sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn P đã thành khẩn khai nH toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng tai nạn giao thông, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nH định: Vi Văn P có giấy phép lái xe hạng A1, khoảng 21 giờ 00 phút ngày 29/9/2019, P điều khiển xe mô tô biển số 65L1 – 242.02 chở theo phía sau ông Nguyễn Văn Đ lƣu thông trên đƣờng Đông Nhì hƣớng từ đƣờng Nguyễn Văn Tiết về chợ Lái Thiêu, khi đi đến đoạn đƣờng trƣớc số nhà 9/8 đƣờng Đông Nhì, khu phố Đông Nhì, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng thì P điều khiển xe lƣu thông sang làn đƣờng bên trái dẫn đến va chạm vào bên trái của xe mô tô biển số 77S9 – 7137 do ông Nguyễn Công L chở theo sau ông Nguyễn Văn H đang lƣu thông đúng phần đƣờng theo hƣớng ngƣợc lại. Hậu quả làm cả hai xe ngã xuống đƣờng, ông Đ tử vong sau cấp cứu; ông Nguyễn Công L bị thƣơng với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 63%; ông H bị thƣơng nhẹ.

Hành vi của bị cáo đã uống rƣợu có nồng độ cồn trong máu là 169,18mg/dl và điều khiển xe mô tô đi không đúng làn đƣờng quy định là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đã vi phạm khoản 8 Điều 8 và Điều 9 Luật Giao thông đƣờng bộ và gây hậu quả làm cho ông Nguyễn Văn Đ chết, ông Nguyễn Công L bị thƣơng với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 63% nên đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham giao thông đƣờng bộ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng cho ngƣời và phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ. Bị cáo nH thức đƣợc hành vi đã uống rƣợu, bia mà điều khiển phƣơng tiện giao thông là trái pháp luật nhƣng nghĩ không xảy ra hậu quả nhƣng thực tế xảy ra tại nạn dẫn đến hậu quả làm cho một bị chết sau khi cấp cứu và một ngƣời bị thƣơng với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể 63%. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do bị cáo uống rƣợu, bia quá nồng độ cho phép và điều khiển xe không đúng làn đƣờng quy định do đó cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả tội phạm, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện tội phạm không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng chi phí mai táng và chi phí khác cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ số tiền 30.000.000đồng và bồi thƣờng cho ông Nguyễn Công L số tiền 20.000.000đồng; ông L, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Quá trình điều tra ông Nguyễn Văn H từ chối giám định thƣơng tích và không yêu cầu xử lý đối với Vi Văn P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra quyết định trƣng cầu giám định tỷ lệ thƣơng tích và ra quyết định dẫn giải đối với ông Nguyễn Văn H, nhƣng ông H đã từ chối giám định thƣơng tích và không chấp hành quyết định dẫn giải, không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hai bánh biển số 77S9-7137 quá trình điều tra xác định do ông Nguyễn Thái B đứng tên giấy chứng nH đăng ký xe, ông B đã bán xe môtô trên cho bà Nguyễn Thị O là mẹ của Nguyễn Công L, nhƣng không làm thủ tục sang tên, ông B không có yêu cầu gì đối với xe này, xét thấy xe mô tô hai bánh biển số 77S9-7137 là tài sản thuộc sở hữu của bà O nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà O là có căn cứ.

Đối với xe môtô hai bánh biển số 65L1-242.02 do bà Huỳnh Thị Bích T đứng tên giấy chứng nH đăng ký xe. Bà T là ngƣời làm cùng công ty với Vi Văn P, vào ngày 29/9/2019, bà T cho P mƣợn xe mô tô trên để đi lại, xác định đây là tài sản hợp pháp của bà T nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà T là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Vi Văn P phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ.

Xử phạt bị cáo Vi Văn P 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Vi Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đƣợc giao hoặc niêm yết.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ