vanban.org

Bản án 329/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Duy T phạm Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Xử phạt bị cáo Trần Duy T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2019. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Duy Thành phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Duy T phạm Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
———————
Bản án số: 329/2019/HS-ST
Ngày 16- 10- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 325/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 345/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

Trần Duy T, sinh năm 1971 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Không rõ; chỗ ở: Khu phố C, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Trần Duy H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H(đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 (không ĐKKH) và có 01 con, sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 25/72018, Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 248/QĐ-XPVPHC; bị bắt tạm giam ngày 30/6/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Đàm Quang H, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.

2. Long Thị T, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 26/6/2019, anh Đàm Quang H đang ăn nhậu cùng bạn bè tại thị xã Thuận An, thì Toàn (tên gọi khác là Pg–chưa rõ nhân thân, lai lịch) là bạn của anh H gọi điện thoại đến nhờ anh H qua ngã tư 550, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đón T đi quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh để lấy đồ. Anh H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số: 93G1-070.67 đi đến khu vực ngã tư 550 và đưa xe cho T điều khiển, sau đó cả hai đi đến trước nhà số 192, đường Tam Bình, khu phố 2, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, T nói H đứng chờ để T đi vào nhà ông anh lấy đồ. Anh H đưa cho T mượn xe đi nhưng sau đó thấy T không quay trở lại, anh H gọi điện cho T thì không nghe máy, anh H đến Công an phường Tam Phú, quận Thủ Đức trình báo sự việc.

Đến khoảng 09 giờ ngày 28/6/2019, Trần Duy T đang chơi tại tiệm game bắn cá gần ngã ba Thông Dụng, phường An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương thì S (chưa rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho T giới thiệu T sẽ đến gặp T để bán xe mô tô. T đi về phòng trọ tại tổ 37, khu phố Chiêu Liêu, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, T gọi điện thoại cho T hẹn gặp để bán xe mô tô. Khoảng 30 phút, T điều khiển xe mô tô biển số 93G1-070.67 đi đến phòng trọ của T và nói: “Xe này em làm được 2 đến 3 ngày rồi”, xe mô tô này của bạn ở gần ngã tư 550 và muốn bán xe này cho T với giá 4.000.000 đồng. Biết xe mô tô, T chiếm đoạt của người khác và không có giấy tờ nhưng do thấy giá rẻ, cần phương tiện đi lại, T đưa cho Toàn 3.500.000 đồng và lấy xe, cả hai về phòng trọ của T, thay biển số 93G1-070.67 của xe mô tô bằng biển số 20F2-6174, còn biển số 93G1-070.67 T vứt đi. T sử dụng xe đi đến tiệm game bắn cá tại ngã ba Thông Dụng để chơi. Lúc này, T nhắn tin cho anh H đến tiệm game bắn cá tại ngã ba Thông Dụng để chuộc xe. Khi đến nơi, anh H thấy có xe mô tô Sirius giống xe bị chiếm đoạt của mình nên đến Công an phường Tân Đông Hiệp trình báo. Tại Công an phường Tân Đông Hiệp, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Kết luận định giá tài sản số 168/BB.ĐG ngày 30/7/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, số khung: RLCS5C 641DY093502, số máy: 5C641093472, biển số: 93G1-070.67 có trị giá 9.000.000 đồng.

Đối với tên S chưa rõ nhân thân, lai lịch tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, số khung: RLCS5C 641DY093502, số máy: 5C641093472, biển số: 93G1-070.67 là tài sản của chị Long Thị Tâm cho anh Đàm Quang Huy mượn. Đã trả lại tài sản cho chị Tâm.

Đối với hành vi của tên T chiếm đoạt tài sản của anh Đàm Quang H xảy ra tại phường Tam Phú, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức đang thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại cáo trạng số 346/CT-VKS ngày 19 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Duy T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Duy T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy biển số xe 20F2-6174 không còn giá trị sử dụng.

Không có yêu cầu nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, trong phần thực hiện nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 09 giờ ngày 28/6/2019, tại phòng trọ thuộc tổ 37, khu phố Chiêu Liêu, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Trần Duy T biết xe mô tô biển số 93G1-070.67 do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua từ tên T với giá 3.500.000 đồng, sau đó thay đổi biển số 20F2-6174 để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có qui định tại Điều 323 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo Kết luận định giá tài sản số 168/BB.ĐG ngày 30/7/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, số khung: RLCS5C 641DY093502, số máy: 5C641093472, biển số: 93G1-070.67 có trị giá 9.000.000 đồng.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tài sản thu hồi trả lại cho bị hại, gây thiệt hại không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa.

Xử lý vật chứng: Xét biển số xe 20F2-6174 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với tên S chưa rõ nhân thân, lai lịch tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, số khung: RLCS5C 641DY093502, số máy: 5C641093472, biển số: 93G1-070.67 là tài sản của chị Long Thị T cho anh Đàm Quang H mượn, đã trả lại tài sản cho chị Tâm.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Duy T phạm Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Duy T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2019.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy biển số xe 20F2-6174.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, bút lục 101).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Duy T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ