- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần êu cầu kháng cáo của ông Ngu ễn Quang T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố t ng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 329/2018/DS-PT Ngày: 15-11-2018 V/v tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngu ễn Ng c Vạng
Các Thẩm phán:
Bà Ngu ễn Thị Võ Trinh
Bà Ngu ễn Huỳnh Thị Hương Thủ
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngu ễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Ông Phan Trung Quốc - i m sát viên.
Trong ngày 22/10/2018, 06/11/2018 và 15/11/2018 tại tr s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số 52/2018/TLPT-DS ngày 05 tháng 4 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2018/DS-ST ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân hu ện T bị kháng cáo.
Theo Qu ết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 324/2018/QĐ-PT ngày 09 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Công D, sinh năm 1962; địa ch : Ấp A, xã L, hu ện T, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Ngu ễn Quang T, sinh năm 1966; địa ch : Ấp M, xã M, hu ện T, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
3. Người làm chứng:
3.1. Ông Phạm Sơn B, sinh năm 1969 (Có mặt)
Địa ch : Ấp M, xã L, hu ện C, t nh Đồng Tháp.
3.2. Ông Ngu ễn Văn L, sinh năm 1962 (Có mặt)
Địa ch : hóm M, thị Trấn T, hu ện C, t nh Đồng Tháp.
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Quang T - Là bị đơn trong v án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Huỳnh Công D trình bày: Vào năm 2010 anh Trần Minh M có sang nhượng lại cho ông toàn bộ hệ thống trạm bơm điện khu vực đê bao ô5 + ô7 thuộc xã T, hu ện C, t nh Đồng Tháp với số tiền 360.000.000đ, ông được UBND xã T, hu ện C giao khoán đầu tư, khai thác khu vực đê bao ô 5 + ô 7 diện tích 215 ha đ làm đê bao thí đi m, thời hạn khai thác là 10 năm (từ năm 2010 - 2020); ông đã đầu tư đường điện hạ thế, trạm bơm điện, đào đường nước dẫn vào ruộng đ ph c v cho dân; khi thỏa thuận UBND xã T có lập “Biên bản ngà 20/9/2010” do ông Ngu ễn Thành C - Phó Chủ tịch UBND xã T đại diện ủ ban nhân dân xã ký tên vào biên bản giao ông lưu giữ làm bằng. Đến tháng 9 năm 2011 ông thỏa thuận cho ông Ngu ễn Quang T thuê khoán lại hệ thống trạm bơm như sau:
Theo thỏa thuận ông và ông T ký hợp đồng ngà 07/9/2011 (lần thứ I) thời hạn thuê khoán 01 năm/3 v lúa, giá 165.000.000đ nhưng ông giảm bớt 15.000.000đ cho ông T đ làm đoạn đường cộ cho bà con thủ lợi nội đồng; vì vậ số tiền thuê khoán còn lại 150.000.000đ. Sau đó ông T thanh toán tiền cho ông được 2 mùa v là 100.000.000đ; còn thiếu lại tiền v 3 năm 2011-2012 là 50.000.000đ.
Đến ngà 07/9/2012 ông T ký hợp đồng (lần thứ II) thời hạn là 03 năm (từ 07/9/2012 - 07/9/2015) nội dung thuê khoán hệ thống trạm bơm điện như trên; nhưng có tha đổi về mức giá do ông giảm bớt cho ông T ch còn giá 40.000.000đ/v lúa (Một năm 120.000.000đ/3 v lúa). Như vậ thời gian tính từ ngà 07/9/2012 đến ngà 07/9/2016, tổng cộng là 04 năm x 3v = 12v lúa x 40.000.000đ/v = 480.000.000đ. Tổng cộng tiền thuê khoán là 150.000.000đ + 480.000.000đ = 630.000.000đ; trong đó ông T đã thanh toán cho ông được số tiền như sau:
1. V 1 và v 2 của hợp đồng thứ I: 100.000.000đ;
2. Ngày 06/9/2013 (Trả theo Tờ cam kết ngà 15/03/2013): 130.000.000đ (Ông D tự ngu ện không khấu trừ số liền 10.000.000đ do ông T lấ trả tiền obe cuốc đất);
3. Ngà 25/3/2014 trả: 15.000.000đ.
Tổng cộng: 245.000.000đ
Vậ 630.000.000đ - 245.000.000đ = 385.000.000đ là số tiền hiện na ông T phải thanh toán, ông không có êu cầu tính lãi trong thời gian qua.
Tại phiên tòa ngày 13/12/2017, ông D thống nhất do nhầm lẫn số tiền 30.000.000đ theo Biên nhận ngà 26/8/2013 hiện na chưa khấu trừ cho ông T, nên thống nhất tiếp t c khấu trừ cho ông T. Do đó, hiện na ông T còn phải trả cho ông như sau: 385.000.000đ - 30.000.000đ = 355.000.000đ.
Riêng đối với số tiền 50.000.000đ theo biên nhận ngà 21/9/2012, ông D trình bà là tiền ông T thanh toán cho hợp đồng lần thứ I ngà 07/9/2011, nên không thống nhất khấu trừ vào phần tiền ông T thiếu hiện na . Vì theo thỏa thuận hợp đồng hai bên ký kết, thời đi m thanh toán cho từng mùa v trong năm được tính: Sau khi nông dân thu hoạch xong mùa v , ông T thu tiền lúa nước rồi mới có tiền thanh toán cho ông. Hợp đồng lần thứ I ngà 07/9/2011 được tính thời v trong năm là "Thu hoạch lúa v 1 vào khoảng tháng 01 của năm sau (01/2012); thu hoạch lúa v 2 vào khoảng tháng 5/2012; thu hoạch lúa v 3 vào tháng 9/2012 thì kết thúc hợp đồng”. Nhưng thực tế ông T thanh toán hợp đồng không đúng thỏa thuận, nợ từ v nà sang v khác ông phải nhắc nh nhiều lần và êu cầu ông T làm cam kết trả nợ. Vì vậ , thực tế số tiền ông T trả 50.000.000đ theo biên nhận ngà 21/9/2012 là trả cho v 2/2011 (hợp đồng lần thứ I) nằm trong số tiền 100.000.000đ mà ông T đã thanh toán cho v 1 và v 2 của hợp đồng lần thứ I.
- Ông Nguyễn Quang T trình bày: Ông thống nhất có ký hợp đồng thuê khoán hệ thống trạm bơm điện của ông Huỳnh Công D khu vực đê bao ô 5 + ô 7 tại xã T, hu ện C, t nh Đồng Tháp vào ngà 07/9/2011 và ngà 07/9/2012 có xác nhận của UBND xã T; theo thỏa thuận thời gian kết thúc hợp đồng vào tháng 9 hàng năm.
Tuy nhiên trong thời gian thực hiện hợp đồng tính từ tháng 09/2011 đến tháng 03/2013 là 05 mùa v , thì ông ch thu tiền của dân được 04 mùa v ; riêng mùa v thứ 05 ông không thu tiền được do ông D không chịu nâng cấp đê bao và bơm nước theo êu cầu của dân, nên từ đó dân không đồng ý cho ông D tiếp t c làm chủ đầu tư trạm bơm điện khu vực đê bao ô 5 + ô 7 xã T; do đó, ông không có sử d ng trạm bơm của ông D nữa, mà ông đã đem má bơm của ông đê ph c v cho dân khu vực đê bao 0 5 + 07.
Trong thời gian thuê khoán hệ thống trạm bơm điện, ông đã trả cho ông D tiền v 1 và v 2 của hợp đồng lần thứ I là: 100.000.000đ; ông còn thiếu lại tiền v 3 năm 2011 - 2012 là: 50.000.000đ. Đối với hợp đồng lần thứ II ông trả cho ông D số tiền 215.000.000đ làm 04 lần như sau:
- Lần thứ 1: Ngà 21/9/2012 là 50.000.000đ;
- Lần thứ 2: Ngà 26/8/2013 là 30.000.000đ;
- Lần thứ 3: Ngà 06/9/2013 là 120.000.000đ (Trả theo Tờ cam kết ngà 15/03/2013 tại Cơ quan Thi hành án dân sự hu ện T 130.000.000đ, nhưng ông đã lấ lại 10.000.000đ đ trả tiền obe cuốc đất);
- Lần thứ 4: Ngày 25/3/2014 là 15.000.000đ;
Ngày 17/9/2013 ông và ông D ký “Hợp đồng thỏa thuận” nội dung ông D thỏa thuận giảm bớt cho ông số tiền 40.000.000đ; ông D sẽ nhận tiền thuê khoán là 80.000.000đ/3 mùa v . Nhưng trên thực tế từ ngà 07/9/2012 đến v Đông xuân năm 2014 ông trả tiền cho ông D theo giá 120.000.000đ/3 mùa v , tổng cộng là 215.000.000đ. Còn nếu tính theo giá thỏa thuận ngà 17/9/2013 là 80.000.000đ/3 mùa v , thì ông ch trả cho ông D 146.666.000đ. Như vậ , số tiền ông trả cho ông D là cao hơn giá thỏa thuận, do đó hiện na ông êu cầu ông D hoàn trả lại số tiền thừa như sau: 215.000.000đ - 146.666.000đ = 68.334.000đ. Ngày 28/12/2016 ông T làm đơn kh i kiện êu cầu ông D trả lại số tiền 68.334.000đ, không có êu cầu tính lãi. Thời gian còn lại từ v Hè thu năm 2014 đến tháng 9/2016 ông không thuê khoán hệ thống trạm bơm điện của ông D nữa, do đó ông không thống nhất đối với êu cầu của ông D trong khoảng thời gian nà .
- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân hu ện T đã qu ết định:
1. Chấp nhận êu cầu kh i kiện của ông Huỳnh Công D đối với ông Ngu ễn Quang T.
Buộc ông Ngu ễn Quang T trả cho ông Huỳnh Công D số tiền thuê khoán hệ thống trạm bơm điện khu vực đê bao ô 5 + ô 7 xã T, hu ện C, t nh Đồng Tháp còn thiếu là 295.000.000đ.
từ ngà ông D có đơn êu cầu thi hành án, mà ông T chưa thi hành xong số tiền trên; thì hàng tháng phải chịu lãi theo mức lãi suất qu định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành vào từng thời đi m thi hành án.
2. Đình ch giải qu ết đối với êu cầu phản tố của ông Ngu ễn Quang T, về việc êu cầu ông Huỳnh Công D trả lại số tiền là 68.334.000đ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông T phải chịu 14.750.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm; được khấu trừ vào tiền nộp tạm ứng án phí 1.708.000đ theo biên lai thu số 07458 ngà 04/01/2017 của Chi c c Thi hành án dân sự hu ện T; ông T còn phải nộp thêm 13.042.000đ.
- Ông D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; nên được nhận lại số tiền nộp tạm ứng án phí là 8.625.000đ theo biên lai thu số 028666 ngà 12/7/2016 và số tiền l.000.000đ theo biên lai thu số 07458 ngà 03/5/2017 của Chi c c Thi hành án dân sự hu ện T.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tu ên về qu ền và thời hạn kháng cáo của các đương sự, qu ền và ngh a v của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo qu định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm ông Ngu ễn Quang T kháng cáo không đồng ý với Bản án số 01/2018/DS-ST ngà 09/01/2018 của Tòa án nhân dân hu ện T. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án theo qu định pháp luật.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Ngu ên đơn giữ ngu ên êu cầu kh i kiện, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau đ giải qu ết tranh chấp và không có cung cấp bổ sung chứng cứ mới.
+ Bị đơn: hông đồng ý theo qu ết định của bản án sơ thẩm và êu cầu của ngu ên đơn, nên tiếp t c kháng cáo êu cầu xem xét lại toàn bộ bản án theo thủ t c phúc thẩm và cung cấp nhân chứng là ông Phạm Sơn B và ông Ngu ễn Văn L.
- Đại diện Viện ki m sát nhân dân T nh ý kiến về giải qu ết v án:
+ Về tố t ng: Thẩm phán th lý v án, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đều thực hiện đúng qu định của Bộ luật tố t ng dân sự.
+ Về nội dung:
Việc ông D và ông T thỏa thuận ký hợp đồng thuê khoán tài sản là hoàn toàn có thật, nội dung ông D cho ông T thuê khoán hệ thống trạm bơm điện khu vực đê bao ô 5 + ô 7 thuộc xã T, hu ện C, t nh Đồng Tháp được UBND xã T ký xác nhận là đúng theo qu định.
Xét êu cầu kh i kiện của ông D êu cầu cá nhân ông T trả tiền thuê khoán tài sản còn thiếu 355.000.000đ là có cơ s chấp nhận. Vì ông T đã thỏa thuận ký 02 hợp đồng thuê khoán tài sản là hệ thống trạm bơm điện của ông D (Hợp đồng ngà 07/9/2011 lần thứ I và Hợp đồng ngà 07/9/2012 lần thứ II); tính từ ngà 07/9/2011 đến ngà 07/9/2016 là 05 năm x 3v = 15v ; với tổng số tiền thuê mướn như sau: Hợp đồng lần thứ I là 150.000.000đ; Hợp đồng lần thứ II là 360.000.000đ; Tiền thuê khoán của năm 2016 là 120.000.000đ, tổng cộng (150.000.000đ + 360.000.000đ + 120.000.000đ) = 630.000.000đ, ông D thống nhất ông T đã thanh toán cho ông số tiền như sau:
Tổng cộng là: 275.000.000đ.
Vì vậ 630.000.000đ - 275.000.000đ = 355.000.000đ
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông D tự ngu ện giảm bớt thêm cho ông T 60.000.000đ tiền thuê khoán của năm 2016. Do đó, 355.000.000đ - 60.000.000đ = 295.000.000đ là sổ tiền hiện na ông T phải thanh toán cho ông D, là phù hợp theo qu định của pháp luật.
Xét êu cầu phản tố của ông T, tại phiên tòa sơ thẩm ông T thừa nhận Tờ thỏa thuận ngà 17/9/2013 là ông D ch thỏa thuận giảm cho ông v mùa năm 2013 - 2014 ông D sẽ nhận giá 80.000.000đ/năm, với điều kiện sau khi ông T thu tiền người đầu tiên 10 ngà phải trả đủ 80.000.000đ; nếu không đúng cam kết thì ông T vẫn phải trả giá 120.000.000đ/năm theo hợp đồng đã ký; và thực tế ông T đã không trả tiền đúng cam kết nên không được ông D giảm bớt. Vì vậ , ông T xin rút lại toàn bộ êu cầu phản tố, không có êu cầu ông D trả lại số tiền 68.334.000đ. Xét thấ đâ là sự tự ngu ện của ông T và việc rút lại êu cầu phản tố là tự ngu ện. Do đó, đình ch giải qu ết đối với yêu cầu phản tố của ông T là phù hợp với qu định pháp luật.
Tại phiên tòa, ông T thống nhất trả tiền thuê khoán cho ông D như sau: Hợp đồng lần thứ I ngà 07/9/2011 là 150.000.000đ; hợp đồng lần thứ II ngà 07/9/2012 tính đến v thứ 2 trong năm 2014 (v Đông xuân năm 2014) là 05 v (05 v x 40.000.000đ/v = 200.000.000đ), tổng cộng 150.000.000đ + 200.000.000đ = 350.000.000đ. Trong đó ông đã thanh toán cho ông D hợp đồng lần thứ I là 100.000.000đ; hợp đồng lần thứ II là 215.000.000đ, tổng cộng 100.000.000đ + 215.000.000đ = 315.000.000đ. Như vậ , 350.000.000đ - 315.000.000đ = 35.000.000đ là số tiền hiện na ông T thống nhất trả cho ông D; còn lại từ v Hè thu năm 2014 đến na không thống nhất trả.
Xét việc ông T khai nại cho rằng do ông D không chịu nâng cấp đê bao nên không thu tiền được, là không phù hợp với nội dung hợp đồng thuê khoán giữa ông và ông D đã ký ngà 07/9/2012; vấn đề ông T nêu dân không đồng ý cho ông D tiếp t c làm chủ đầu tư trạm bơm khu vực đê bao ô 5 + ô 7 xã T là không phù hợp với nội dung biên bản của UBND xã T, về việc thống nhất giao cho ông D đầu tư, khai thác trạm bơm điện khu vực đê bao ô 5 + ô 7 thời hạn 10 năm (từ năm 2010 - 2020) do ông Ngu ễn Thành C - Phó Chủ tịch UBND xã T ký ngà 20/9/2010. Do đó, việc khai nại trên của ông T là không có cơ c chấp nhận.
Xét việc ông T khai từ v Hè thu năm 2014 đến ngà 07/9/2016 ông không còn thuê khoán hệ thống trạm bơm điện của ông D nữa, là không có cơ s chấp nhận. B i vì toàn bộ hệ thống trạm bơm điện khu vực đê bao ô 5 + ô 7 ông D và UBND xã T đã lập biên bản ngày 20/9/2010 giao cho ông D được qu ền đầu tư, khai thác trạm bơm trong thời hạn 10 năm (từ năm 2010 đến 2020). Trong khi đó ông T, là người ký hợp đồng thuê khoán nhận lại hệ thống trạm bơm nà của ông D, thời hạn 03 năm (09 mùa v ) tính từ ngà 07/9/2012 đến ngà 07/9/2015 là hết hạn. Tu ông T không ký lại hợp đồng thuê khoán với ông D nhưng thực tế ông T vẫn tiếp t c bơm nước cho bà con nông dân khu vực đê bao ô 5 + ô 7 đến khi ông D chu n nhượng hệ thống trạm bơm cho ông Bùi Văn T vào ngày 15/9/2016. Đồng thời, ông T đã thừa nhận quá trình bơm nước khu vực đê bao ô 5 + ô 7 ông không có ký kết hợp đồng nào với UBND xã T ha Hợp tác xã của xã T, mà do ông tự thỏa thuận bơm nước với người dân là không có căn cứ chấp nhận và không phù hợp với qu định pháp luật. Do đó, việc ông T khai nại không thuê khoán hệ thống trạm bơm của ông D thời đi m từ v Hè thu năm 2014 đến ngà 07/9/2016 nên không thống nhất trả tiền thuê khoán là không có cơ s chấp nhận; nên buộc ông T phải có ngh a v thanh toán tiền thuê khoán cho ông D theo giá đã thỏa thuận 120.000.000đ/năm, là có căn cứ và phù hợp theo qu định pháp luật.
Xét việc ông T khai nại số tiền 50.000.000đ theo biên nhận ngà 21/9/2012 là tiền do ông trả cho ông D đ thanh toán “Hợp đồng thứ II ngà 07/9/2012” là không có cơ s . Vì đối chiếu tại tờ cam kết ngà 15/03/2013 ông T đã ghi rõ trong cam kết là còn nợ tiền v 3 năm 2012 ông D là 50.000.000đ, nợ v Đông xuân năm 2013 là 40.000.000đ, nợ v Hè thu năm 2013 là 40.000.000đ, tổng cộng 130.000.000đ và cam kết trong vòng một tháng trả đủ cho ông D. Như vậ biên nhận ngà 21/9/2012 (sau ngày ký hợp đồng lần thứ II là 14 ngà ) là ngà thời đi m của v 3 năm 2011, nên số tiền nà ông T thanh toán cho ông D là khoản tiền của Hợp đồng lần thứ I ngà 07/9/2011, chớ không phải thanh toán cho hợp đồng lần thứ II ngà 07/9/2012, vì thời hạn thanh toán cho hợp đồng lần thứ II là từ tháng 01/2013 tr về sau. Do đó, không có cơ s chấp nhận lời khai nại nà của ông T. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ ngu ên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2018/DS-ST ngà 09/01/2018 của Tòa án nhân dân hu ện T, không chấp nhận toàn bộ đơn kháng cáo của ông Ngu ễn Quang T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét thấ , ông Huỳnh Công D thỏa thuận cho ông Ngu ễn Quang T thuê lại hệ thống bơm nước tưới tiêu đ ông T khai thác ph c v cho nông dân sản xuất lúa và ông T phải trả tiền thuê hàng năm cho ông D, vì vậ quan hệ pháp luật tranh chấp giữa 02 bên êu cầu Tòa án xem xét giải qu ết là tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản. Ông D, ông T trực tiếp tham gia tranh t ng tại phiên tòa phúc thẩm nên việc xét xử đúng qu định của pháp luật.
Ông Ngu ễn Quang T kháng cáo không đồng ý trả cho ông Huỳnh Công D số tiền 295.000.000đ mà ch đồng ý trả cho ông D 35.000.000đ; không đồng ý trả tiền thuê trạm bơm từ v hè thu năm 2014 tr về sau nà là có một phần cơ s . b i vì:
Xét hợp đồng giao khoán trạm bơm điện khu vực ô đê bao số 5 và số 7 tại xã T, hu ện C, Đồng Tháp được ký kết vào ngà 07/11/2011 giữa ông D với ông T đã được Uỷ ban nhân xã T chứng thực là hoàn toàn tự ngu ện phù hợp với qu định của pháp luật. Theo hợp đồng, ông D giao cho ông T thuê toàn bộ phương tiện, d ng c đ bơm nước (hệ thống bình biến áp, ba bộ mô tưa, má dầu) và qu ền khai thác hệ thống đê bao, kênh tưới tiêu nước ph c v sản xuất lúa trong khu vực đê bao nói trên. Thời hạn hợp đồng k từ ngà 07/9/2011 đến ngà 07/9/2012 với giá là 150.000.000đ. Ngà 07/9/2012, ông D tiếp t c ký hợp đồng với ông T đ thực hiện hợp đồng thuê mới thời hạn đến ngà 07/9/2016 với giá mỗi năm là 120.000.000đ (tương ứng mỗi mùa v là 40.000.000đ), giá trị của hợp đồng nà là 360.000.000đ. Tổng giá trị của 02 hợp đồng là 510.000.000đ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã thanh toán tiền thuê cho ông D, c th như sau:
Ông D và ông T thống nhất đã thanh toán cho hợp đồng thứ nhất 100.000.000đ nhưng không nhớ có làm biên nhận hay không, sau đó thanh toán thêm các lần gồm: Ngà 06/9/2013 trả 130.000.000đ; ngà 25/3/2014 trả 15.000.000đ, ngày 13/12/2017 trả 30.000,000đ. Đối với số tiền trả ngà 21/9/2012 trả 50.000.000đ, thanh toán sau khi vừa ký hợp đồng lần 2, nên ông T cho rằng thanh toán cho hợp đồng lần 2 là không phù hợp, đồng thời tại tờ cam kết ngà 15/3/2013 ông T xác định còn nợ tiền của v 3 năm 2012 là 50.000.000đ (hợp đồng lần 1), do đó xác định số tiền nà thanh toán cho hợp đồng lần 1 (trong số tiền 100.000.000đ) là có cơ s .
Nay ông T không đồng ý thanh toán tiếp cho ông D k từ mùa v thứ 2 năm 2014, lý do là tại thời đi m nà là mùa lúa của v thứ 3 đê bao không bảo dảm an toàn có th sạt lỡ gâ thiệt hại cho sản xuất, nên ông phải thực hiện làm đoạn đê bao nga phần đất của ông C với chiều dài hơn 400m. Việc thi công đê bao nà , các hộ dân đóng góp tiền đ mua đất nền của ông C và trả tiền nà bằng cách ông thu lúa theo mùa v (thu theo tỷ lệ diện tích của từng hộ sản xuất) của các hộ dân đ hoàn trả lại cho ông. Đối với chủ đầu tư thì chịu trách nhiệm phần đắp đê bao (thi công phần đê bao nằm trên đất ông C), vì vậ ông đã thuê má kobe lấ đất từ kênh lên đ đắp đê bao tổng chi phí là 220.000.000đ. Tu nhiên, ông T không th êu cầu các nhân chứng là các chủ má kobe nhận làm thuê đoạn đê bao với chi phí như ông trình bà , việc tổ chức thi công cũng không có hợp đồng, thanh toán tiền không có sự xác nhận của ông D hoặc chính qu ền cấp cơ s , na ông T cũng không êu cầu Tòa án tiến hành lập Hội đồng định giá tài sản đ xác định chi chí thi công đ xem xét giải qu ết v án. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T ch trình bà do ông được các hộ dân êu cầu ông ph c v tưới tiêu và ông ch đồng ý trả tiếp cho ông D số tiền 35.000.000đ, nhưng ông không cung cấp tài liệu chứng cứ đ chứng minh cho êu cầu của ông là có căn cứ và hợp pháp; đồng thời ông cũng không giải trình đầ đủ rõ ràng các vấn đề nào thỏa thuận đã thống nhất và hợp lý.
Đối với trình bà của các nhân chứng như ông Ngu ễn Văn H, Trần Văn H, Phan Văn B, Ngu ễn Văn Bé E đều cho rằng theo ý kiến của các hộ dân tại cuộc h p bàn về vấn đề gia cố đê bao và xuống giống v 3 năm 2014 đã thống nhất chấm dứt hợp đồng bơm tưới tiêu với ông D, đồng thời ông T được thực hiện hợp đồng tha thế ông D, lời khai của nhân chứng là không phù hợp với nội dung diễn biến cuộc h p được ghi nhận tại biên bản ngà 24/5/2014 của Ban nhân ấp B, xã T, hu ện C. Ông D là người hợp đồng khai thác bơm nước tưới được Ủ ban nhân dân xã T, hu ện C chấp thuận th hiện tại biên bản ngà 20/9/2010. Ủ ban nhân dân xã T có ý kiến (Văn bản số 68/CV-UBND ngà 21/9/2018) cho biết là vào đầu v 3 năm 2018, Ủ ban nhân dân xã có giao cho Ban nhân dân ấp tiến hành mời dân có diện tích canh tác trong ô đê bao số 5, số 7 đ h p bàn về việc gia cố và lấ ý kiến thống nhất xuống giống lúa v 3 năm 2014. Đồng thời, Ủ ban nhân dân xã không có chấm dứt hợp đồng đối với ông D.
Tại biên bản ngà 24/5/2014, của Ban nhân ấp B, xã T, hu ện C về việc h p dân bàn việc gia cố đê bao và thống việc xuống giống v 3 năm 2014, ghi nhận ý kiến của ông D như sau: Việc nâng cấp gia cố đê bao buộc chủ đầu tư phải thực hiện thì ông không th làm được, nên ông không thực hiện nữa, nếu ai vào đầu tư thì ông bán lại với giá 10 lượng vàng. Trên thực tế, ông T đã đầu tư chi phí thuê đắp đê bao, nhưng ông không th chứng minh tổng chi phí thực hiện là 220.000.000đ như ông đã trình bà . Tại phiên tòa phúc thẩm, ông D đồng ý chi cho ông T 40.000.000đ nhưng với điều kiện là ông T phải thanh toán cho ông đủ số tiền thuê còn thiếu 235.000.000đ (07 mùa v tính từ năm 2014 đến năm 2016). Đối với ông T thì không đồng ý nhận tiền hỗ trợ 40.000.000đ của ông D và cũng không đồng ý thanh toán tiền theo êu cầu của ông D. Xét thấ , ông D đã không cùng hợp tác với ông T quản lý nâng cấp đê bao từ v 3 năm 2014, nên ông D êu cầu hư ng lợi nhuận từ việc khai thác tưới tiêu, c th là phải thanh toán cho ông đúng như hợp đồng là không th chấp nhận được, mà ch buộc ông T thanh toán 1/3 giá trị phần hợp đồng còn lại tính từ v 3 năm 2014 đến năm 2016 (07 mùa v ) là hợp lý. Các khoản phải thanh toán và khấu trừ như sau:
- Các khoản phải thanh toán: 03 v của năm 2011 là 150.000.000đ; 05 v của năm 2012 và 2013 là 200.000.000đ; 07 v còn lại từ v 3 năm 2014 đến năm 2016 là 93.333.000đ (280.000.000đ : 3 = 93.333.000đ). Tổng cộng các khoản là 443.300.000đ.
- Các khoản do ông T đã thanh toán 275.000.000đ và khoản tiền do ông D tự ngu ện chi tại Tòa án cấp sơ thẩm là 60.000.000đ (ông D kh i kiện êu cầu ông T thanh toán 355.000.000đ, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm ông giảm cho ông T 60.000.000đ, ch êu cầu thanh toán 295.000.000đ).
- hấu trừ: 443.300.000đ - 275.000.000đ - 60.000.000đ =108.300.000đ.
Vậ ông T phải có ngh a v thanh toán tiếp cho ông D số tiền là 108.300.000đ.
Đại diện Viện ki m sát T nh ý kiến về giải qu ết v án: Từ khi thu lý v án đến xét xử tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đều thực hiện đúng qu định của Bộ luật tố t ng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ ngu ên qu ết định của án sơ thẩm là không có cơ s .
Do đó, ông T kháng cáo là có một phần cơ s nên chấp nhận một phần êu cầu kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Về án phí:
Ông D êu cầu ông T phải thanh toán số tiền 295.000.000đ nhưng ch buộc ông T phải trả 108.300.000đ, nên phần êu cầu không được chấp nhận thì phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 9.335.000đ.
Ông T có ngh a v trả tiền cho ông D nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.415.000đ. Ông T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 147 của Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26 Nghị qu ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường v Quốc hội.
1. Chấp nhận một phần êu cầu kháng cáo của ông Ngu ễn Quang T.
Sửa một phần qu ết định của bản án sơ thẩm.
2. Chấp nhận một phần êu cầu kh i kiện của ông Huỳnh Công D đối với ông Ngu ễn Quang T.
Buộc ông Ngu ễn Quang T trả cho ông Huỳnh Công D số tiền thuê khoán hệ thống trạm bơm điện là 108.300.000đ.
từ khi có đơn êu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi theo mức lãi suất bằng 50 mức lãi suất qu định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành xong.
Đình ch giải qu ết đối với êu cầu phản tố của ông Ngu ễn Quang T, về việc êu cầu ông Huỳnh Công D trả lại số tiền là 68.334.000đ.
3. Về án phí dân sự:
- Ông T phải chịu 5.415.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 1.708.000đ theo biên lai thu số 07458 ngà 04/01/2017 của Chi c c Thi hành án dân sự hu ện T; ông T còn phải nộp thêm 3.707.000đ.
- Ông D phải chịu 9.335.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 8.625.000đ theo biên lai thu số 028666 ngà 12/7/2016 và số tiền l.000.000đ theo biên lai thu số 07693 ngày 03/5/2017 của Chi c c Thi hành án dân sự hu ện T. Ông D được nhận lại số tiền còn thừa là 290.000đ.
Ông T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại cho ông T tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0002464 ngày 28/3/2018 của Chi c c Thi hành án dân sự hu ện T.
Trường hợp bản án được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có qu ền thỏa thuận thi hành án, êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngà tu ên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - V SND T nh; - TAND hu ện T; - Chi c c THADS hu ện T; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vạng |