- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp đất đai"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo của ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên Bản án d n sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 15/7/2025 của Tòa án nh n d n hu vực 15, t nh L m Đồng.
- Căn cứ chính? Điều 138 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 328/2025/DS-PT Ngày: 14/11/2025 V/v: “Tranh chấp đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng.
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn và ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Yến - Thư Toà án của Tòa án nh n d n t nh L m Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nh n d n t nh L m Đồng xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 272/2025/TLPT-DS, ngày 07/10/2025 về việc “Tranh chấp đất đai”, do Bản án d n sự sơ thẩm số 19/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nh n d n hu vực 15, t nh L m Đồng bị háng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 508/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị M, sinh năm: 1954 (vắng mặt)
Địa ch : Ấp khu A, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Võ Văn M1, sinh năm 1974 (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 15/11/2024). Có mặt
Địa ch : Thôn Đ, xã H, t nh L m Đồng.
- Bị đơn: Ông Lê Văn Q, sinh năm: 1971 (vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971 (có mặt)
Địa ch : Thôn H, xã S, t nh L m Đồng
- Đại diện theo ủy quyền của ông Q, bà T: Ông Quách Thanh T1, sinh năm 1963 (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 13/8/2025). Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1993 (có mặt)
Địa ch : Thôn H, xã S, t nh L m Đồng
Người háng cáo: Bị đơn ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Năm 1993, bà M được cha, mẹ tặng cho diện tích đất hoảng 1.200m2 toạ lạc tại thôn Hà Lãng, xã Thắng Hải, huyện Hàm T n, t nh Bình Thuận (nay là thôn Hà Lãng, xã Sơn Mỹ, t nh L m Đồng). Trên đất có 05 ngôi mộ của mẹ, ông bà nội, cô, chú của bà M. Bà M sử dụng ổn định liên tục, đến năm 2007 do điều iện sức hoẻ nên bà chuyển về Ấp khu 1, Bình Châu, Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu cũ để sinh sống và giao lại cho cháu là ông Bùi Văn H quản l . Năm 2020, vợ chồng ông Q, bà T đến lấn chiếm diện tích đất trên nên bà đã gửi đơn đến UBND xã Thắng Hải để được giải quyết và ngày 13/4/2021, xã Thắng Hải đã mời hai bên đến hòa giải và đến tháng 04/2022, bà và vợ chồng ông Q, bà T đã thoả thuận phân chia thửa đất nêu trên, theo đó bà M được sử dụng diện tích đất có ích thước 23m×20,4m, tính từ cạnh phía tây vào thửa đất có cạnh phía nam là 23m, phần còn lại giao cho vợ chồng ông Q. Văn bản thoả thuận do ông Vòng Thế A lập, các bên đã vào văn bản. Sau khi hai bên thống nhất thì Mai đã giáp ranh cho vợ chồng ông Q để đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên khi bà M làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông Q không ký mà tiếp tục tranh chấp với bà M, cản trở không cho bà M sử dụng và nộp đơn tranh chấp tại các cơ quan có thẩm quyền. Nay bà M khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên công nhận cho bà M được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp là 467,2m2 (theo mảnh trích đo). Đối với hàng rào trụ xi măng ẽm gai và gạch táp lô cạnh phía t y và phía nam thửa đất do ông Q, bà T rào, thì bà M đề nghị nhận tài sản và hỗ trợ giá trị lại cho họ theo ết quả định giá trong chứng thư thẩm định giá.
- Bị đơn ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T thống nhất trình bày: Năm 1992, ông Q hai phá diện tích đất hoảng 2500m2, trong đó có phần đất đang tranh chấp với bà M. Sau khi khai phá thì ông Q trồng hoai lang một thời gian, nhưng do gia súc phá hoại hông thể tiếp tục nên ông để đất trống và quay trở lại làm nghề biển. Dù hông canh tác nhưng ông vẫn rào đất xung quanh để quản l , đến năm 2020 thì ông Hà và ông Mẫn đến lấn chiếm trồng trụ rào trên diện tích đất của ông bà. Hai bên đã hoà giải thành nên vợ chồng ông, bà x y nhà trên đất. Sau đó bà M tiếp tục nộp đơn tranh chấp với vợ chồng ông, bà. Đến ngày 06/4/2022, bà M dẫn theo nhiều người đến nhà ông, bà đe doạ buộc vợ chồng ông, bà phải giấy thoả thuận và căng d y đo, đóng cọc, ban đầu bà M đòi lấn chiếm của ông bà diện tích đất có cạnh giáp đường ở phía nam là 33m, nhưng vợ chồng ông bà hông đồng nên bà M ch đóng cọc chiếm của ông bà diện tích đất có cạnh giáp đường ở phía nam là 23m. Vì sợ ảnh hưởng đến tính mạng nên ông bà buộc phải vào văn bản thoả thuận. Ông bà hông đồng với yêu cầu hởi iện của bà M vì nguồn gốc diện tích đất do ông Q hai phá, văn bản thoả thuận bà M nộp cho Toà án là văn bản bà M buộc vợ chồng ông bà . Đề nghị Toà án hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của bà M và đề nghị Tòa án tuyên văn bản thỏa thuận ph n chia đất hai phá chung vô hiệu do bị đe dọa, ép buộc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn H trình bày: Ông là người được bà M giao quản l diện tích đất tranh chấp. Theo ông được biết diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ bà M khai phá, sau đó tặng cho lại bà M vào năm 1993. Vào ngày 06/4/2022, ông có chứng iến việc thoả thuận ph n chia đất giữa vợ chồng ông Q và bà M, hi thỏa thuận thì hai bên tự nguyện, bà M không có hành vi gì đe doạ, cả hai bên cùng éo thước d y đo và ph n chia đất, ông Vòng Thế A là người sống gần đó thấy có đông người nên qua xem, do đó, họ có nhờ ông A viết biên bản thoả thuận. Ông Q, bà T tự nguyện vào biên bản ph n chia đất. Ngày hôm sau, ông là người x y hàng rào gạch táp lô để làm ranh giới đất theo thoả thuận, từ hàng rào gạch táp lô trở về phía t y là đất của bà M, từ hàng rào gạch táp lô trở về phía đông là đất của ông Q, bà T. Lúc ông x y dựng thì ông Q, bà T sinh sống ở phần đất đã được ph n chia nhưng hông có iến gì. Vào năm 2021, vợ chồng ông Q, bà T có nộp đơn tranh chấp với ông tại UBND xã Thắng Hải cũ nhưng ông ch làm thuê cho bà M, việc tranh chấp của vợ chồng ông Q là hông đúng nên UBND xã Thắng Hải ết luận việc hoà giải thành. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà M.
- Quá trình giải quyết, người làm chứng ông Vòng Thế A trình bày: Ông hông có mối quan hệ gì với các đương sự, ông là người sống gần diện tích đất tranh chấp. Diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình bà M và có các ngôi mộ của người th n bà M. Ông Q có đến trồng hoai lang nhưng vì nước mặn, hông canh tác được nên bỏ đi, đến hoảng năm 2020 mới quay lại sử dụng và tranh chấp với bà M. Vào tháng 04/2022, ông thấy gia đình ông Q có nhiều người nên qua xem thì thấy bà M và vợ chồng ông Q thoả thuận ph n chia đất, cả hai bên cùng éo thước d y ph n chia đất và nhờ ông viết giấy thoả thuận ph n chia giúp. Thời điểm đó hai bên hoàn toàn vui vẻ, bà M hông có hành vi gì đe doạ, vợ chồng ông Q, bà T cũng hông có biểu hiện gì bị ép buộc. Sau hi các bên xong văn bản thoả thuận, qua ngày hôm sau bà M có thuê người x y hàng rào gạch táp lô làm ranh giới ph n chia thửa đất theo văn bản thoả thuận. Vợ chồng bà T, ông Q hoàn toàn hông có iến gì. Thời điểm ph n chia thì bà M được 23m ×20,4m. Diện tích đất hiện nay các bên đương sự đang tranh chấp là phần đất được thoả thuận ph n chia cho bà M. Việc ông Q, bà T cho rằng bị ép buộc văn bản thoả thuận là hông đúng.
- Quá trình giải quyết, người làm chứng bà Nguyễn Thị Hồng trình bày: Bà hông có mối quan hệ gì với các đương sự, bà là người sống gần diện tích đất tranh chấp và được bà M thuê để làm cỏ, trồng c y trên đất. Từ năm 1984 thì bà M đã thuê bà làm cỏ, trồng hoai lang trên đất hàng năm, lúc đó ông Q cũng sống gần hu vực tranh chấp hoảng 400-500m. Trên đất có mộ của gia đình bà M. Quá trình bà làm thuê thì hông thấy vợ chồng ông Q đến canh tác, quản l diện tích đất tranh chấp. Đến năm 2019 thì ông Q đến x y nhà trên đất của bà M nên hai bên xảy ra tranh chấp. Bà hông chứng iến việc ph n chia đất giữa các bên nhưng theo bà diện tích đất tranh chấp là của bà M vì trên đất có mộ của gia đình bà M, vợ chồng ông Q mới đến lấn chiếm vào những năm 2019-2020.
- Quá trình giải quyết, người làm chứng ông Lê T1 trình bày: Ông không có mối quan hệ gì với các đương sự, hi UBND xã Thắng Hải hoà giải tranh chấp thì có mời ông vơi tư cách là các hộ d n sinh sống l u năm nên ông có biết nội dung tranh chấp giữa các bên. Ông sống tại Hà Lãng, Thắng Hải từ năm 1980, thời điểm đó ông đã thấy trên đất có mồ mả của gia đình bà M, ông cũng thấy bà M thường xuyên đến phát dọn và chăm sóc mồ mả trên đất, ngoài ra hông thấy người nào hác canh tác. Sau đó ông có nghe bà M và vợ chồng ông Q thoả thuận phân chia đất, bà M dời các ngôi mộ đi nơi hác thì vợ chồng ông Q bà T tranh chấp, việc các bên thoả thuận ph n chia đất thì ông hông chứng iến. Theo ông thì diện tích đất tranh chấp là của bà M vì đất có mồ mả gia đình bà M và bà M đã quản l sử dụng từ xưa đến nay. Đến năm 2020 thì vợ chồng ông Q mới chuyển đến sống ở hu vực tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh Lâm Đồng đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 200, Khoản 2 Điều 229, Điều 273 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Điều 357, Điều 468 Bộ luật D n sự;
- Điều 26, Điều 138 Luật Đất đai năm 2024
- Khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Hồ Thị M về việc “Tranh chấp đất đai” đối với ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T, cụ thể:
1. Bà Hồ Thị M được quyền sử dụng diện tích đất 467,2m2 tại thôn Hà Lãng, xã Sơn Mỹ, t nh L m Đồng được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1 trên bản đồ hiện trạng vị trí hu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai Hàm T n duyệt ngày 06/02/2025.
Bà Hồ Thị M có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng đất đai theo quy định.
(Tọa độ, vị trí của thửa đất được thể hiện cụ thể trong bản đồ hiện trạng vị trí khu đất do Chi nhánh VPĐK đất đai Hàm Tân ký duyệt ngày 06/02/2025 kèm theo bản án)
2. Bà Hồ Thị M được quyền sở hữu hàng rào trụ xi măng ẽm gai và gạch táp lô tại các cạnh 1-14-13-12-11-10-9 thuộc diện tích đất 467,2m2 được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1 trên mảnh trích đo hiện trạng hu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Hàm T n duyệt ngày 06/02/2025
3. Bà Hồ Thị M phải thanh toán cho ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T số tiền 2.048.000đ (Hai triệu hông trăm bốn mươi tám nghìn đồng) giá trị tài sản trên đất là hàng rào trụ xi măng ẽm gai và gạch táp lô.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền háng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 05/8/2025, bị đơn ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu iến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, thư
đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự, người làm chứng đủ cơ sở để xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất là của cha, mẹ bà M đã tặng cho lại bà M quản l , sử dụng. Việc các bên giấy thỏa thuận ph n chia đất là hoàn toàn tự nguyện. Quá trình xét xử phúc thẩm, bị đơn hông cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên hông có cơ sở để chấp nhận háng cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự, hông chấp nhận háng cáo của ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên Bản án d n sự sơ thẩm số 19/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nh n d n hu vực 15, t nh L m Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thời hạn hạn cáo: Tòa án xét xử và tuyên án ngày 24/7/2025, đến ngày 05/8/2025, bị đơn ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T làm đơn háng cáo là trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn hởi iện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định mối quan hệ pháp luật “Tranh chấp đất đai” là phù hợp với quy định tại hoản 9 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng d n sự.
Xét háng cáo của bị đơn Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp: Theo lời trình bày của nguyên đơn thì diện tích đất tranh chấp thuộc một phần trong tổng diện tích 1.200m2 do cha mẹ của nguyên đơn hai phá và tặng cho vào năm 1993, sau hi nhận đất thì nguyên đơn vẫn thường xuyên canh tác, sử dụng và quản l đất, đến năm 2007 giao lại cho cháu là Bùi Văn H quản l và đến năm 2020 thì xảy ra tranh chấp. Trên đất có những ngôi mộ của người th n nhưng sau đó đã di dời các phần mộ đi nơi hác.Tuy nhiên theo bị đơn trình bày thì diện tích đất tranh chấp thuộc một phần trong tổng diện tích hơn 2000m2 do ông Q hai phá năm 1992, sau hi hai phá thì bị đơn đã trồng hoai lang nhưng do bị gia súc phá nên hông canh tác được nhưng bị đơn vẫn thường xuyên quản l và đến năm 2020 thì xảy ra tranh chấp do ông Hà và ông Mẫn lấn chiếm.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
- Theo lời trình bày của những người làm chứng là ông Vòng Thế A, bà Nguyễn Thị Hồng và ông Lê T1 thì đều hẳng định trên diện tích đất tranh chấp trước đ y đã có các ngôi mộ của người th n gia đình bà M, bà M là người trực tiếp quản l , sử dụng diện tích đất tranh chấp. Mặc dù ông Q cũng có một thời gian trông hoai lang trên đất nhưng sau đó thì hông canh tác nữa. Lời trình bày của những người làm chứng là phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn.
- Theo ết quả xác minh tại địa phương và cung cấp từ UBND xã Thắng Hải (cũ) thì diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình bà M khai phá và sử dụng trước, trên đất có các ngôi mộ của gia đình bà M nhưng ông Sót (cha của ông Q) có đến trồng hoai lang một thời gian rồi để đất trống.
- Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T cũng thừa nhận, trước đ y hi vợ chồng bà trồng hoai lang thì trên đất có các ngôi mộ nhưng bà hông biết là mộ của ai, hiện nay thì các ngôi mộ đã được bà M di dời.
Như vậy, mặc dù về nguồn gốc thì các bên trình bày hông thống nhất nhưng trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các bên, lời hai của những người làm chứng có thể xác định được nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là của cha, mẹ bà M hai phá và để lại cho bà M. Về quá trình sử dụng thì sau khi hai phá, gia đình bà M quản l , sử dụng và trên đất có các ngôi mộ của gia đình bà M, tuy nhiên phía bị đơn cũng có thời gian ngắn sử dụng vào việc trồng c y khoai lang.
. Đối với “văn bản thoả thuận ph n chia đất chung” lập ngày 06/4/2022 có nội dung ông Lê Văn Q, bà Nguyễn Thị T và bà Hồ Thị M cùng thoả thuận ph n chia đất, cụ thể “phần đất của bà M được quy định chia là 23m×20,4m tính từ đống sỏi phía tây của miếng đất vào 23m là của bà M, phần còn lại là của ông Q”, “bên phần bà M cam kết sẽ cùng gia đình ông Q lên Uỷ ban xã rút đơn khiếu nại tranh chấp”. Văn bản có chữ tên và điểm ch của ông Q, bà T, bà M; chữ
của người làm chứng là ông Vòng Thế A và ông Trần Văn C. Thấy rằng:
- Phía bị đơn thừa nhận có ký và điểm ch vào văn bản nêu trên nhưng do bị ép buộc, tuy nhiên bị đơn hông có tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình, trong hi đó, theo hồ sơ do Công A xã Thắng Hải (cũ) cung cấp thì ông Trần Văn C và ông Vòng Thế A là người chứng iến, xác định vợ chồng ông Q và bà M tự thương lượng ph n chia đất, cả hai cùng đo đạc tại thực địa, giao cho bà M diện tích đất có cạnh giáp đường phía nam là 23m, sau đó mới vào nhà nhờ ông A viết giấy thoả thuận. Qua quá trình xác minh, Công A xã Thắng Hải (cũ) đã có thông báo trả lời đơn số 95/TB-CAX ngày 03/8/2022 xác định hông đủ cơ sở ết luận việc ông Q, bà T giấy thoả thuận là bị ép buộc.
- Quá trình giải quyết và tại phiên toà, vợ chồng bị đơn cũng thừa nhận ban đầu bà M yêu cầu cắm cọc để lấn chiếm diện tích đất có cạnh giáp đường dài 33m nhưng ông bà hông đồng , nên bà M ch lấn chiếm 23m. Như vậy, hai bên có sự thương lượng với nhau về việc giao cho bà M diện tích đất bao nhiêu vì nếu bà M ép buộc thì hông có việc thể hiện chí của bị đơn là hông đồng cạnh dài đường là 33m, nên lời trình bày của những người làm chứng về việc các bên có đo đạc trước hi viết giấy ph n chia đất là có cơ sở. Hơn nữa, cũng theo hồ sơ do Công An xã Thắng Hải (cũ) cung cấp, bản mô tả ranh giới mốc giới thửa đất ngày 08/4/2022 ông Lê Văn Q có ký giáp ranh cho bà Hồ Thị M, tại biên bản làm việc ngày 18/4/2023 do UBND xã Thắng Hải (cũ) lập cũng thể hiện việc bà M có ý iến rút đơn tranh chấp như thỏa thuận ngày 06/4/2022. Trên thực tế, các bên đã thực hiện công việc cam ết trong văn bản ph n chia đất.
- Bên cạnh đó, vợ chồng ông Q, bà T cũng trình bày vào ngày 06/4/2022 có trình báo Công A xã Thắng Hải, nhưng hi Công An đến bản th n họ lại không trình báo mình bị ép buộc. Tại phiên tòa, bà T trình bày là sau hi công án xã về thì bà M mới đo đất và viết giấy nhưng sau hi lập văn bản ph n chia đất chung ngày 06/4/2022 thì ông Q, bà T cũng hông có đơn tố cáo mà đến ngày 02/6/2022 vợ chồng họ mới có đơn trình báo Cơ quan chức năng là điều hông hợp l .
- Ngoài ra, vợ chồng bị đơn cũng thừa nhận sau hi văn bản thoả thuận ph n chia đất thì bà M đã x y dựng hàng rào gạch táp lô tuy nhiên vợ chồng họ hông có iến phản đối. Như vậy có đủ cơ sở để xác định văn bản thoả thuận ph n chia đất chung lập ngày 06/4/2022 là do các bên tự nguyện thoả thuận và thực hiện, lời trình bày của bị đơn về việc bị ép văn bản thoả thuận là hông có cơ sở để chấp nhận.
. Đối với các tài liệu chứng cứ do bị đơn nộp bao gồm hồ sơ ỹ thuật thửa đất thể hiện diện tích đất đo đạc theo sự ch dẫn của vợ chồng bị đơn thể hiện toàn bộ diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông Q, bà T, tuy nhiên việc đo đạc ch do bị đơn ch dẫn và chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất cho ông Q, bà T. Đối với đơn xin đất ở và biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất có chữ xác nhận của ông Lê Xu n T2 là trưởng thôn, tuy nhiên ông Tùng xác định ch
xác nhận hoàn cảnh hó hăn của ông Q, không xác nhận về nguồn gốc đất và ông cũng hông biết vị trí đất ở đ u. Do đó, chứng cứ nêu trên do bị đơn nộp hông có giá trị chứng minh cho lời trình bày của bị đơn. Đồng thời việc ch dẫn đo đạc và đơn xin đất ở cũng hông phù hợp với nguồn gốc, quá trình sử dụng đất như đã ph n tích ở trên. Vì vậy hông có căn cứ để chấp nhận.
. Theo cung cấp của UBND xã Thắng Hải (cũ) thì toàn bộ diện tích đất tranh chấp thuộc quy hoạch đất ở, hông thuộc trường hợp phải thu hồi, hiện chưa có thông báo, quyết định thu hồi; việc sử dụng đất của bà M phù hợp với quy hoạch nên đủ điều iện để công nhận quyền sử dụng đất.
. Đối với tài sản là hàng rào trên đất, các đương sự thống nhất trình bày hàng rào trụ xi măng ẽm gai và gạch táp lô ở phía t y và phía nam thửa đất do vợ chồng bị đơn x y dựng trước hi các bên tiến hành ph n chia thửa đất. Nguyên đơn trình bày đã thanh toán giá trị cho vợ chồng bị đơn nhưng hông có tài liệu chứng cứ để chứng minh, bị đơn phủ nhận vấn đề nêu trên. Tại phiên toà nguyên đơn đồng nhận tài sản và thanh toán giá trị cho vợ chồng bị đơn theo ết quả thể hiện trong chứng thư thẩm định giá. Vợ chồng bị đơn đã được tiếp cận chứng thư nhưng hông có iến. Hội đồng xét xử xét thấy, việc bị đơn x y dựng hàng rào trước hi các bên thoả thuận ph n chia đất nên nguyên đơn đề nghị nhận tài sản và hoàn lại giá trị hàng rào cho bị đơn là phù hợp. Do bị đơn hông có iến về giá trong chứng thư thẩm định giá và hông đề nghị định giá lại nên hội đồng xét xử sử dụng ết quả chứng thư thẩm định giá để xét xử, xác định nguyên đơn được sở hữu hàng rào trụ xi măng ẽm gai và gạch táp lô ở phía t y và phía nam thửa đất và phải thanh toán cho vợ chồng bị đơn giá trị là 2.048.000đ. Đối với hàng rào gạch táp lô phía đông thửa đất tranh chấp, móng nhà trên đất do nguyên đơn x y dựng và eo tràm mọc rài trên đất các đương sự hông tranh chấp nên Hội đồng xét xử hông xem xét.
. Từ những căn cứ và phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà M, bà M được quyền sử dụng diện tích đất 467,2m2 được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1 trên bản đồ hiện trạng vị trí hu đất ngày 06/02/2025 là có cơ sở. Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà phúc thẩm, ông Q, bà T hông cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì hác nên hông có căn cứ để xem xét chấp nhận háng cáo. Do đó cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như iến của Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh L m Đồng là có căn cứ.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định. Quá trình giải quyết thì nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng 16.458.000đ nên cần buộc bị đơn hoàn trả lại số tiền này.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do háng cáo hông được chấp nhận nên người kháng cáo ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự;
Không chấp nhận háng cáo của ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên Bản án d n sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 15/7/2025 của Tòa án nh n d n hu vực 15, t nh L m Đồng.
2. Căn cứ: Điều 147, Khoản 1 Điều 148, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng d n sự;
- Điều 160, Điều 163, Điều 189, Điều 221, Điều 357, Điều 468 Bộ luật D n sự;
- Điều 26, Điều 31, Điều 138 Luật Đất đai năm 2024
Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27, hoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Hồ Thị M
- Bà Hồ Thị M được quyền sử dụng diện tích đất 467,2m2 tại thôn Hà Lãng, xã Sơn Mỹ, t nh L m Đồng được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1 trên bản đồ hiện trạng vị trí hu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Hàm T n duyệt ngày 06/02/2025.
Bà Hồ Thị M có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng đất đai theo quy định.
(Tọa độ, vị trí của thửa đất được thể hiện cụ thể trong bản đồ hiện trạng vị trí khu đất do Chi nhánh VPĐK đất đai Hàm Tân ký duyệt ngày 06/02/2025 kèm theo bản án)
- Bà Hồ Thị M được quyền sở hữu hàng rào trụ xi măng ẽm gai và gạch táp lô tại các cạnh 1-14-13-12-11-10-9 thuộc diện tích đất 467,2m2 được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1 trên mảnh trích đo hiện trạng hu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Hàm T n duyệt ngày 06/02/2025
- Bà Hồ Thị M phải thanh toán cho ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T số tiền 2.048.000đ (Hai triệu hông trăm bốn mươi tám nghìn đồng) giá trị tài sản trên đất là hàng rào trụ xi măng ẽm gai và gạch táp lô.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T phải liên đới hoàn trả lại số tiền 16.458.000đ (Mười sáu triệu, bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng) chi phí đo đạc, xem xét thẩm định, định giá cho bà Hồ Thị M.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí d n sự sơ thẩm: Ông ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí d n sự sơ thẩm.
Bà Hồ Thị M không phải chịu án phí d n sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà M số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0011008 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện Hàm T n (nay là Phòng THADS hu vực 15- L m Đồng)
5. Về án phí d n sự phúc thẩm: Buộc ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T mỗi người phải nộp 300.000đ án phí d n sự phúc thẩm, nhưng được hấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002630 ngày 25/8/2025 của Thi hành án d n sự t nh L m Đồng; ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí d n sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Những quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án (ngày 14/11/2025)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; - TAND Khu vực 15; - Phòng THADS khu vực 15; - Các đương sự; - Cổng TTĐT-TANDTC - Lưu: HS; Tòa DS; Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Anh Dũng |