vanban.org

Bản án 326/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thọ N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Thọ N 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 326/2024/HS-ST
Ngày: 31-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thế Chính.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Lý.

Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 347/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên bị cáo: Ngô Thọ N, sinh năm 1976 tại T. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Khu phố 4, phường H, thành phố T, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thọ N2 (đã chết) và bà Mai Thị M2; vợ tên Nguyễn Ngọc T1; có 02 con sinh năm 2007 và năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo ra đầu thú và bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2024 cho đến nay, có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Tất Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh V; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh V; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 1400/139, Khu phố 4, phường H, thành phố T, tỉnh B; có mặt.

Người làm chứng: Ông Hồ Thanh M, sinh năm 1963; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Thọ N và Nguyễn Tất Đ quen biết nhau do làm chung công trình xây dựng. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/8/2019, sau khi đi làm công trình xây dựng tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương thì ông Nguyễn Tất Đ rủ ông Hồ Thanh M và Ngô Thọ N đến nhà trọ Thanh Minh, Đường DJ6, Khu phố 3B, phường T, thành phố B, tỉnh B nơi Đ thuê trọ để uống trà. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, N hỏi Đ mượn xe môtô hiệu Honda Futere biển số 64K1-200.63 cùng giấy tờ đăng ký xe để đi công việc ở thành phố Hồ Chí Minh và hứa trả xe, giấy tờ đăng ký xe cho ông Đ vào 05 giờ 00 phút ngày 02/8/2019. N để lại một xe môtô hiệu FULJIR màu xanh biển số 61FH-5213 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe do bà Nguyễn Ngọc T1 (là vợ của bị cáo N) đứng tên chủ sở hữu. Ông Đ đồng ý giao xe môtô biển số 64K1-200.63 và giấy chứng nhận đăng ký xe cho N. Sau đó, N điều khiển xe môtô biển số 64K1-200.63 về nhà tại khu phố 4, phường H, thành phố T, tỉnh B thì đã xảy ra mâu thuẫn với vợ nên N bỏ về quê tại xã 1 V, huyện N, tỉnh T. N điều khiển xe môtô biển số 64K1-200.63 của ông Đ đến tiệm cầm đồ không nhớ tên thuộc phường Hòa Lợi, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương để cầm được số tiền 20.000.000 đồng. Sau đó, N đã nhờ bạn tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) chở đến Sân bay Tân Sơn Nhất mua vé về T. Ngô Thọ N đưa giấy biên nhận cầm đồ xe môtô biển số 64K1-200.63 nhờ H đưa lại cho vợ của N để khi ông Nguyễn Tất Đ đến tìm thì vợ của H biết chỗ để đi chuộc xe môtô biển số 64K1-200.63 trả lại cho ông Đ.

Ngày 06/8/2019, ông Đ đến Công an phường Thới Hòa trình báo và vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 14/8/2019, bà T1 (vợ của bị cáo N) đã đi chuộc xe môtô biển số 64K1-200.63 trả lại cho ông Đ.

Theo Kết luận về việc định giá tài sản ngày 30/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) Bến Cát kết luận 01 xe môtô hiệu Honda Future biển số 64K1-200.63 trị giá 25.200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSBC ngày 16/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo Ngô Thọ N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngô Thọ N từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bị cáo không tham gia tranh luận, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Tất Đ, bà Nguyễn Thị Thu T, ông Hồ Thanh Minh, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử xét xử vắng mặt.

Về nội dung vụ án: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/8/2019, tại nhà trọ Thanh Minh, Đường DJ6, Khu phố 3B, phường Thới Hoà, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, bị cáo Ngô Thọ N có hành vi mượn xe môtô biển số 64K1-200.63 của ông Nguyễn Tất Đ đi công việc, sau đó mang xe đi cầm lấy tiền tiêu xài rồi bỏ trốn. Theo Kết luận về việc định giá tài sản ngày 30/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) Bến Cát kết luận 01 xe môtô hiệu Honda Future biển số 64K1-200.63 trị giá 25.200.000 đồng.

Xét bị cáo có hành vi mượn tài sản của bị hại rồi bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, Bản cáo trạng số 12/CT-VKSBC ngày 16/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an N, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mượn tài sản của bị hại rồi bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thọ N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Thọ N 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Thọ N phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ