- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01(một) năm 09(chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 326/2022/HS-ST Ngày: 08-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Ngọc Giàu
2. Bà Lê Yến Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai qua hình thức trực tuyến đối với vụ án hình sự thụ lý số: 364/2022/TLST- HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 350/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn B, sinh năm 2001 tại tỉnh K; nơi cư trú: Ấp T, xã T1, huyện C, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1981 và bà Huỳnh Thanh L, sinh năm 1979; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 22/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 126/2020/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 07/02/2021.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 14/8/2022 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty tài chính TNHH MTV N (FE Credit); địa chỉ: Tầng 02, tòa nhà Ree, số 9 Đoàn Văn Bơ, Phường x, Quận y, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
Người làm chứng:
- Ông Lê Tấn L vắng mặt;
- Ông Trần Văn B, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/8/2022, Công an phường G, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở trọ tại địa chỉ: B6/9, khu phố B, phường G, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Khi kiểm tra đến phòng trọ số B1 do Lê Tấn L thuê ở thì có Trần Văn B điều khiển xe mô tô kiểu dáng Winner màu đỏ đen, biển số 68C1-699.32 đến chơi tại phòng trọ số B1 với L. Thấy B có biểu hiện nghi vấn nên Công an phường G yêu cầu kiểm tra thì B tự lấy trong túi quần đang mặc ra 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng và khai nhận là ma túy tổng hợp của B cất giấu để sử dụng. Công an phường Thuận G tiến hành niêm phong gói nylon chứa tinh thể màu trắng và đưa B về trụ sở làm việc rồi chuyển giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 14/8/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần Văn B điều khiển xe mô tô kiểu dáng Winner màu đỏ đen biển số 68C1-699.32 đến khu vực trước cổng Công ty mì Gấu Đỏ thuộc phường A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mua 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) ma túy của một người phụ nữ rồi cất giấu vào túi quần đang mặc. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, B điều khiển xe mô tô biển số 68C1-699.32 đến phòng trọ số B1 nêu trên để rủ B là Lê Tấn L cùng sử dụng ma túy. Nhưng khi B vừa đến nơi thì gặp Công an phường G kiểm tra, phát hiện, bắt giữ. Việc B mua và cất giấu ma túy thì L không biết và cũng không hùn tiền để mua.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng có trọng lượng 0,4297 gam (nghi là ma túy tổng hợp); 01 (một) mô tô kiểu dáng Winner màu đỏ đen, biển số 68C1-699.32, số khung: RLHKC3704MY813002, số máy: KC34E1245657.
Ngày 22/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có kết luận giám định số 398/MT-PC09 với nội dung: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4297 gam; loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 353/CT-VKS ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Văn B từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu 398/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật chứng của vụ án và là vật cấm nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô kiểu dáng Winner màu đỏ đen, biển số 68C1-699.32, số khung: RLHKC3704MY813002, số máy: KC34E1245657. Quá trình điều tra xác định, xe này do Trần Văn B mua theo hình thức trả góp và đang được dùng làm tài sản thế chấp để vay tín dụng của Công ty tài chính TNHH N. Ngày 14/8/2022, B sử dụng xe mô tô này để đi mua túy về sử dụng, do đó cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với Lê Tấn L không biết việc Trần Văn B tàng trữ trái phép chất ma túy và không biết việc B mang ma túy đến để rủ L sử dụng chung nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đề cập xử lý là đúng quy định.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Trần Văn B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/8/2022, tại phòng trọ số B1, địa chỉ: B6/9, khu phố B, phường G, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Trần Văn B thực hiện hành vi tàng trữ 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng, qua kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định mẫu tinh thể trên là ma túy, có khối lượng 0,4297 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thục hiện hành vi phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo chưa xác định rõ nhân thân lai lịch, cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương để tiếp tục xác minh xử lý.
[6] Đối với Lê Tấn L không biết việc Trần Văn B tàng trữ trái phép chất ma túy và không biết việc B mang ma túy đến để rủ L sử dụng chung nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đề cập xử lý là đúng quy định.
[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng:
- 01 bì thư niêm phong ghi số 398/PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là vật chứng trong vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc xe môtô kiểu dáng Winner màu đỏ đen, biển số 68C1-699.32, số khung: RLHKC3704MY813002, số máy: KC34E1245657. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe này do Trần Văn B đứng tên đăng ký chủ sở hữu và sử dụng chiếc xe này để đi mua túy về sử dụng, do đó cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp để vay tín dụng giữa Công ty tài chính TNHH N và Trần Văn B được sẽ tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi vi phạm nghĩa vụ và phát sinh tranh chấp.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong, ghi số vụ 398/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Bên ngoài có chữ ký người chứng kiến Trần Văn B, chữ ký cán bộ giao mẫu Ngô Minh Tuấn, cán bộ nhận mẫu Nguyễn Hoàng Ân và hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (Kèm kết luận giám định số 398/MT-PC09 ngày 22 tháng 8 năm 2022).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe 02 bánh biển số 68C1-699.32, số loại KC370 WINNERX, mang biển kiểm soát 68C1-699.32, có số khung, số máy: không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa. Số khung: RLHKC3704MY813002, số máy: KC34E1245657. Không có chìa khóa xe, không có kiếng xe, không kiểm tra tình trạng bên trong máy (Kèm theo kết luận giám định số 841/KL-KTHS (SKSM) ngày 20/10/2022).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/11/2022 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phốThuận An).
3. Tách tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản để vay tín dụng giữa Công ty tài chính TNHH N và Trần Văn B ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi vi phạm nghĩa vụ và phát sinh tranh chấp.
4. Về án phí:
Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Thuận An;
- Chi cục THADS thành phố Thuận An;
- Công an thành phố Thuận An;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- Lưu: HS, THAHS, AV.
Hồ Thanh Thủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THUẬN AN
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH DƯƠNG
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ ngày 08 tháng 9 năm 2022;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hoàng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tấn Tài và ông Thái Văn Trung.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 246/2022/TLST- HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với:
Bị cáo Đỗ Hữu Ty, sinh năm 2001 tại Đồng Tháp.
Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,QUYẾT ĐỊNH CÁC
VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
2. Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; các tài liệu, chứng cứ do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và hợp pháp.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
3. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu Ty phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
4. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu Ty 01(một) năm 09(chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2022.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ghi số 136/MT-PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 gói thuốc lá hiệu Jet.
- Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An 01 xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave, nhãn hiệu không rõ, số loại không rõ, mang biển số 67L9-0850, số khung: VTTDCH094TT*008681, số máy: VTTJL1P52FMH...?...(dấu “?” là chữ số nguyên thủy bị mài mất số), xe không bửng, không gương, để tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc xe và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/8/2022).
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đỗ Hữu Ty phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
7. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
8. Các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
9. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không có.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
10. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
11. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.
Nghị án kết thúc vào hồi
giờ
phút, ngày tháng năm 2020.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THUẬN AN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Lê Hoàng Vương Số:
/2022/HSST-QĐTG
Thuận An, ngày 08 tháng 9 năm 2022
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tấn Tài và ông Thái Văn Trung.
Căn cứ Điều 109, 113, 119 và 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Tạm giam bị cáo Đỗ Hữu Ty, sinh năm 2001 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Khóm An Thạnh A, phường An Lộc, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không.
Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01(một) năm 09(chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Thời hạn tạm giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Điều 2: Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Công an thành phố Thuận An; - VKSND thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Lưu: HS | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Vương |