- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị D về việc ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 326/2019/HNGĐ-ST Ngày 30-12-2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Năm
Ông Trần Quốc.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Ngày 30 tháng 12 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 786/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 442/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị D, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp R, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải ngày 13/12/2019 và tại phiên tòa chị Lý Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T sống chung năm 1998, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ nhưng không có đăng ký kết hôn. Hiện tại vợ chồng đã ly thân nhau. Xét thấy cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 03 người con chung cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 18/11/2005, cháu Nguyễn Nhã V, sinh ngày 09/10/2002, cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 08/10/1998. Cháu D đã trưởng thành có cuộc sống riêng không yêu cầu tòa án giải quyết. Cháu T, cháu V hiện đang sống cùng với anh T. Hiện nay các con đang đi học, điều kiện đi lại khó khăn nên không thể đưa các cháu đến tòa án ghi nhận ý kiến theo yêu cầu của tòa án, chị đồng ý giao các con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị xác định tự thỏa thuận với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định không có.
Tại biên bản hòa giải ngày 13/12/2019 anh T xác định:
Về hôn nhân: Anh và chị D sống chung năm 1998, hôn nhân do anh tự nguyên không ép buộc, có tổ chức hôn lễ nhưng không có đăng ký kết. Hiện tại vợ chồng đã ly thân nhau. Anh không đồng ý ly hôn với chị D, anh xác định hiện vẫn còn yêu thương vợ con, mâu thuẫn vợ chồng là không lớn nên yêu cầu được hàn gắn lại quan hệ vợ chồng, cùng nhau lo cho các con.
Về con chung: Có 03 người con chung cháu Nguyễn Duy T – sinh ngày 18/11/2005, cháu Nguyễn Nhã V – sinh ngày 09/10/2002, cháu Nguyễn Thùy D – sinh ngày 08/10/1998. Cháu D đã trưởng thành có cuộc sống riêng không yêu cầu tòa án giải quyết. Cháu T, cháu V hiện đang sống cùng với anh. Hiện nay các con đang đi học, điều kiện đi lại khó khăn nên không thể đưa các cháu đến tòa án ghi nhận ý kiến theo yêu cầu của tòa án, anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng các cháu, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Anh thống nhất yêu cầu của nguyên đơn.
Về tài sản chung: Anh xác định tự thỏa thuận với chị D, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh T có nơi trú tại ấp Rạch Bần B, xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân.
Chị D khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh T, yêu cầu anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị D là người khởi kiện, anh T là người bị kiện nên xác định tư cách đương sự chị D là nguyên đơn, anh T là bị đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng anh có yêu cầu xét xử vắng mặt; căn cứ theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh T theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Năm 1998, chị D và anh T sống chung với nhau là hoàn toàn tự nguyện, tuy nhiên không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không có cơ sở công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị D và anh T. Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh T không thống nhất với yêu cầu của chị D nhưng anh không thể đưa ra biện pháp nào để cải thiện quan hệ vợ chồng giữa các bên, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa, chị D xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn với anh T.
[3] Về con chung: Chị D và anh T có 03 người con chung Nguyễn Duy T, sinh ngày 18/11/2005, cháu Nguyễn Nhã V, sinh ngày 09/10/2002, cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 08/10/1998. Cháu D đã trưởng thành có cuộc sống riêng không yêu cầu tòa án giải quyết. Cháu T, cháu V hiện đang sống cùng với anh T. Hiện nay các con đang đi học, điều kiện đi lại khó khăn nên không thể đưa các cháu đến tòa án ghi nhận ý kiến theo yêu cầu của tòa án, chị D và anh T đều thống nhất giao các con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T, V cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các bên và đúng với quy định của pháp luật.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, anh T không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của anh T nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị D và anh T xác định tài sản chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình, anh T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị D về việc ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lý Thị D và anh Nguyễn Quốc T.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Duy T, sinh ngày 18/11/2005 và cháu Nguyễn Nhã V, sinh ngày 09/10/2002 cho anh Nguyễn Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lý Thị D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Chị Lý Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Lý Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Chị có nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002979 ngày 10 tháng 12 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ, chị Lý Thị D không phải nộp tiếp.
Chị Lý Thị D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Quốc T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng NV-KT và THA TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện TVT; - Chi cục THADS huyện TVT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Hợp |