- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phạm Ngọc Mai A cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P, Nguyễn Duy T1 và Phan Xuân H1 phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 325/2023/HS-ST Ngày 22-9-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn.
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 307/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 452/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, sinh năm 1976, tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Số H, khu phố C, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số F, đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1947 và bà Phạm Ngọc Á (đã chết); có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2006; có 01 chị ruột, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến ngày 04/7/2023 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn; bị cáo tại ngoại, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2/ Huỳnh Thị P, sinh năm 1981, tại tỉnh Long An; thƣờng trú: Số E, đƣờng số E, khu phố B, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A đƣờng N, khu phố Đ, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Huỳnh Phú T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; chồng tên Trần Văn C, sinh năm 1973; có 02 con lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004; có 03 em ruột, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến ngày 04/7/2023 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn; bị cáo tại ngoại, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3/ Nguyễn Duy T1, sinh năm 1979 tại Thành phố Hà Nội; thƣờng trú: thôn A, xã B, huyện P, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số A, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1946 và bà Trần Thị L, sinh năm 1952; vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008; có 03 anh, chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất, sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến ngày 04/7/2023 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn; bị cáo tại ngoại, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
4/ Phan Xuân H1, sinh năm 1984, tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Số A, đƣờng Đ, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phan Xuân H2 (đã chết) và bà Dƣơng Thị B1 (không rõ năm sinh); có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2021; có 06 anh, chị, em ruột lớn nhất sinh năm 1963, nhỏ nhất sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/9/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An ( nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng tuyên phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Cƣớp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/11/2018, đóng án phí ngày 02/12/2016.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến ngày 04/7/2023 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn; bị cáo tại ngoại, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Văn T3, sinh năm 1988; thƣờng trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Căn hộ D, chung cƣ E, C, Phƣờng A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Chị Nguyễn Ngọc Phƣơng K, sinh năm 2001. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P, Phan Xuân H1 và Nguyễn Duy T1 cùng quen biết nhau và sinh sống ở gần nhau.
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, trong lúc Nguyễn Phạm Ngọc Mai A đang ở nhà tại số F đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì T1, H1 và P đến chơi. Trong quá trình ngồi uống nƣớc T1, H1 và P thấy hai bộ bài tây 52 lá để tại nhà của Anh nên cả nhóm rủ chau chơi bài binh xập xám thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng. Cách thức đánh bạc, ngƣời chơi chia bộ bài tây 52 lá thành 4 tụ, mỗi tụ 13 lá bài. Ngƣời chơi sẽ xếp bài thành 3 chi, hai chi 5 lá và một chi 3 lá, bài đƣợc xếp từ lớn đến nhỏ, sau đó từng ngƣời chơi sẽ đối chiếu từng chi. Ngƣời nào thắng hai chi trở lên là ngƣời thắng. Mỗi ván đá vòng từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng. Mỗi ngƣời chơi sẽ làm cái từ 03 ván, sau đó xoay vòng. Đến 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi A, P, T1 và H1 đang đánh bạc thắng thua bằng tiền thì đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố D phối hợp Công an phƣờng Đ, thành phố D phát hiện, lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang. Tang vật thu giữ 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 11.500.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định, hành vi đánh bạc của Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P, Phan Xuân H1 và Nguyễn Duy T1 nhƣ sau:
+ Nguyễn Phạm Ngọc Mai A có 2.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Anh thắng đƣợc 3.000.000 đồng. Trong số tiền tang thu tại chiếu bạc Anh có 5.000.000 đồng;
+ Phan Xuân H1 mang theo 3.000.000 đồng và sử dụng hết vào việc đánh bạc. Quá trình đánh bạc, H1 thắng đƣợc 1.000.000 đồng. Trong số tiền tang thu tại chiếu bạc, H1 có 4.000.000 đồng;
+ Huỳnh Thị P mang theo 3.500.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, P thua 2.000.000 đồng. Trong số tiền tang 11.500.000 đồng, P có 1.500.000 đồng;
+ Nguyễn Duy T1 mang theo 3.000.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T1 thua 2.000.000 đồng. Trong số tiền tang thu tại chiếu bạc Tập có 1.000.000 đồng;
Tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P, Phan Xuân H1 và Nguyễn Duy T1 sử dụng vào việc đánh bạc là 11.500.000 đồng.
Đối với hành vi của Nguyễn Phạm Ngọc Mai A sử dụng nhà trọ của mình tại số F đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để cùng với Phan Xuân H1, Huỳnh Thị P, Nguyễn Duy T1 tham gia đánh bạc thắng thu bằng tiền, tuy nhiên Anh không thu tiền xâu, đồng thời việc đánh bạc bộc phát do đó hành vi của A không cấu thành tội “Gá bạc”.
Đối với anh Lê Văn T3 là chủ nhà số F đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cho Nguyễn Phạm Ngọc Mai A thuê để ở, anh T3 không biết việc A sử dụng căn nhà trên để đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.
Tại Cáo trạng số 313/CT-VKS-DA ngày 24 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P, Phan Xuân H1 và Nguyễn Duy T1 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; Huỳnh Thị P và Nguyễn Duy T1, mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Xuân H1 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc 11.500.000 đồng và tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng.
Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, các bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Phan Xuân H1, Huỳnh Thị P và Nguyễn Duy T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị cáo.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, tại số F đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Phan Xuân H1, Huỳnh Thị P và Nguyễn Duy T1 có hành vi đánh bạc dƣới hình thức binh xập xám thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 11.500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 313/CT-VKS-DA ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng, nhƣng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là ngƣời đã thành niên, nhận thức rõ hành vi đánh bạc dƣới hình thức thắng thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo.
Trong vụ án có đồng phạm, nhƣng là đồng phạm giản đơn không có phân công vai trò cụ thể nên không coi là đồng phạm có tổ chức. Các bị cáo tham gia với vai trò là ngƣời thực hành.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P và Nguyễn Duy T1 phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Phan Xuân H1 là lao động chính có hoàn cảnh gia đình khó khăn đƣợc chính quyền địa phƣơng xác nhận, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P và Nguyễn Duy T1 đều là ngƣời lao động, có nhân thân tốt chƣa có tiền án, tiền sự; bị cáo Phan Xuân H1 từng bị xét xử về tội Cƣớp tài sản.
Về hình phạt chính: Xét các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P và Nguyễn Duy T1 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số tiền đánh bạc không lớn. Sau khi đƣợc áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú, các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng không làm ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phƣơng, đồng thời cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với các bị cáo.
Xét bị cáo Phan Xuân H1 tuy có nhân thân, nhƣng sau khi chấp hành xong hình phạt đến ngày phạm tội mới bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Trong vụ án này, bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn và đã có thời gian bị tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến ngày 04/7/2023 cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó, với bị cáo không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng không ảnh hƣởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phƣơng. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn việc khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Mức hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo do đó Hội đồng xét xử quyết định không phạt bổ sung.
Về vật chứng: Xét số tiền 11.500.000 đồng thu giữ của các bị cáo, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc;
Xét 02 bộ bài tây 52 lá, các bị cáo sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với hành vi của Nguyễn Phạm Ngọc Mai A sử dụng nhà trọ của mình tại số F đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để cùng với Phan Xuân H1, Huỳnh Thị P, Nguyễn Duy T1 tham gia đánh bạc thắng thu bằng tiền, tuy nhiên Anh không thu tiền xâu, đồng thời việc đánh bạc bộc phát do đó hành vi của A không cấu thành tội “Gá bạc”.
Đối với anh Lê Văn T3 là chủ nhà số F đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cho Nguyễn Phạm Ngọc Mai A thuê để ở, anh T3 không biết việc A sử dụng căn nhà trên để đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là có căn cứ.
Mức hình phạt, xử lý vật chứng nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P, Nguyễn Duy T1 và Phan Xuân H1 phạm tội Đánh bạc.
2/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A 30.000.000 (ba mƣơi triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị P 25.000.000 (hai mƣơi lăm triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T1 25.000.000 (hai mƣơi lăm triệu) đồng.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P và Nguyễn Duy T1.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Xuân H1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam 26 (hai mƣơi sáu) ngày (từ 09/6/2023 đến ngày 04/7/2023) tƣơng đƣơng 02 (hai) tháng 18 (mƣời tám) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 12 (mƣời hai) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ đƣợc tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng nhận đƣợc bản án và quyết định thi hành án. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Phan Xuân H1 cho Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng trong việc giám sát, giáo dục. Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo Phan Xuân H1.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc số tiền 11.500.000 (mƣời một triệu năm trăm nghìn) đồng.
(Theo lệnh thanh toán ngày 12/9/2023 của Ngân hàng N – Chi nhánh thành phố D, S).
+ Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Phạm Ngọc Mai A, Huỳnh Thị P, Nguyễn Duy T1 và Phan Xuân H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo (04); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - VKSND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Công an thành phố Dĩ An (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND nơi cƣ trú của các bị cáo (04); - Ngƣời tham gia tố tụng (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |