- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Bà Tiền Muối Dữ, ông Lê Hùng Vương có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 325/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/3/2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
2. Bà Hồ Thị Lang
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Lê Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1214/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Tiền Muối Dữ, sinh năm 1972 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: 501/13/6 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lê Hùng Vương, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: 663 Bùi Đình Túy, Phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bà Tiền Muối Dữ và ông Lê Hùng Vương là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Bình Thạnh vào năm 1998. Năm 2006, hai ông bà ly hôn. Đến năm 2007, hai ông bà kết hôn lại theo giấy chứng nhận kết hôn số 300, quyển số 01, đăng ký ngày 27/12/2007 tại Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống ông bà có hai con chung tên Lê Tiền Thanh Trí, sinh năm 1998; Lê Tiền Thanh Tâm, sinh ngày 16/10/2006. Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/12/2021, bà Tiền Muối Dữ yêu cầu ly hôn với ông Lê Hùng Vương; bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên, không yêu cầu ông Lê Hùng Vương cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung bà khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án ghi nhận những vấn đề sau đây: Tại Bản khai ngày 04/7/2022, nguyên đơn trình bày: Cuộc sống hôn nhân của ông bà không hạnh phúc do bị đơn thường xuyên bạo hành nên năm 2006 bà đã ly hôn. Mặc dù bà chấp nhận tha thứ, cố gắng hàn gắn nhưng bị đơn không thay đổi, gia đình thường xuyên có mâu thuẫn, cãi vã, bạo hành. Bà xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên yêu cầu ly hôn với bị đơn. Tại các đơn cùng đề ngày 04/7/2022, nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến các phiên xét xử nên không ghi nhận được ý kiến, không thể hòa giải. Tại phiên tòa, Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng, Thẩm phán và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH
Nguyên đơn yêu cầu ly hôn, giải quyết vấn đề về con chung nên quan hệ pháp luật là Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo trả lời xác minh của Công an Phường 12, quận Bình Thạnh thì ông Lê Hùng Vương có hộ khẩu tại số 663 Bùi Đình Túy, Phường 12, quận Bình Thạnh, nhưng không thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ khác. Như vậy đây là địa chỉ cư trú cuối cùng của đương sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh. [2] Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của các đương sự theo đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập được ghi nhận trong Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 23/9/2022.
Do bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến, không giao nộp tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án.
Theo giấy chứng nhận kết hôn số 300 quyển số 01 đăng ký ngày 27/12/2007 tại UBND Phường 12, quận Bình Thạnh thì có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà Tiền Muối Dữ và ông Lê Hùng Vương hợp pháp. Xét, hôn nhân của hai đương sự tồn tại trong một thời gian dài nhưng thường xuyên có mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 236/2007/QĐ-CNTT ngày 10/8/2007 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh thì các đương sự ly hôn lần thứ nhất, sau đó tái hôn. Theo nguyên đơn trình bày thì bị đơn thường xuyên bạo hành gia đình, không yêu thương, chăm lo, săn sóc vợ con. Nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng đã hết, không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án chứng tỏ đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình, không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ với nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy mặc dù địa phương chưa nhận được yêu cầu hòa giải mâu thuẫn nhưng cuộc sống gia đình nhất thiết phải có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nguyên đơn, bị đơn không thực hiện. Hiện nay, hai bên đương sự mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét trình bày của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu mà Tòa án thu thập được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 236/2007/QĐ-CNTT ngày 10/8/2007 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, xác định nguyên đơn và bị đơn có hai con chung. Cũng trong Quyết định này, nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lê Tiền Thanh Tâm và bị đơn không cấp dưỡng. Do đương sự có tranh chấp về con nên Hội đồng xét xử phải xem xét giải quyết. Xét trẻ Tâm có nguyện vọng ở với mẹ và thực tế đang được nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng; bị đơn không có ý kiến nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Tâm cho nguyên đơn tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của trẻ và điều kiện thực tế. Đối với con đã thành niên và có khả năng lao động, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [7] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn, nuôi con là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 63, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà Tiền Muối Dữ và ông Lê Hùng Vương ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 300 quyển số 01 đăng ký ngày 27/12/2007 tại Ủy ban nhân dân Phường 12, quận Bình Thạnh của bà Tiền Muối Dữ và ông Lê Hùng Vương hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Giao cho bà Tiền Muối Dữ trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lê Tiền Thanh Tâm, sinh ngày 16/10/2006. Ông Lê Hùng Vương có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. 3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tiền Muối Dữ không yêu cầu ông Lê Hùng Vương cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con. 4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề tài sản, nợ chung. 5. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Tiền Muối Dữ phải chịu án phí trong vụ án ly hôn là 300,000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300,000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0049943 ngày 10/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Đương sự đã nộp đủ án phí.
6. Bà Tiền Muối Dữ, ông Lê Hùng Vương có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự (2); - UBND P.12, Q.Bình Thạnh (1); - TAND TP. Hồ Chí Minh (1); - VKSND Q. Bình Thạnh(2); - Chi cục THADS Q. Bình Thạnh(1); - Lưu VP, HS(4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thanh |