vanban.org

Bản án 325/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 11/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Phạm Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt: Phạm Ngọc L 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2022. Về vật chứng: áp dụng Điều 106 - BLTTHS 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phạm Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số: 325/2022/HSST
Ngày: 11/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, TP HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Việt Anh

Ông Nguyễn Văn Lương

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt Ánh - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 326/2022/HSST ngày 27/10/2022 đối với bị cáo:

Họ tên: PHẠM NGỌC L - Sinh ngày 17/3/1984 tại Thái Nguyên

ĐKHKTT: xóm Q, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Chỗ ở: không nơi ở cố định

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Tày

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Tự do

Trình độ văn hoá: 12/12

Con ông: Phạm Văn B

Con bà: Lương Thị A

Có vợ là Nguyễn Thị Thúy Q và có 04 con: lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh 2019

- TATS: không

- Nhân thân: Ngày 27/9/2013, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 433/2013/HSST, TAND quận H1, TP Hà Nội xử phạt 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2013 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra tù về địa phương ngày 14/12/2014 (đã xóa án tích)

(Danh chỉ bản số 455 do công an quận H lập ngày 04/8/2022)

Bắt quả tang và tạm giữ ngày 26/7/2022, tạm giam ngày 04/8/2022

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 26/7/2022, tại trước cửa số nhà 9Q19, ngõ 134 phố N, phường T, quận H, TP Hà Nội, Tổ Công tác Công an phường T, quận H, TP Hà Nội kiểm tra phát hiện, bắt quả tang trong lòng bàn tay trái của Phạm Ngọc L 01 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng kích thước (1,5x1,5) cm. Tại chỗ L khai nhận chất bột màu trắng là ma túy loại heroin, vào khoảng 09 giờ ngày 26/7/2022, L mua của một nam thanh niên không quan biết tại khu vực ngõ 104 phố N, phường T, quận H, TP Hà Nội; L đang đi tìm nơi để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 5308/KL-KTHS ngày 03/8/2022, Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an TP Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong gói ni lông thu giữ của L là ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,162 gam

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L do không xác minh được tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Tại bản cáo trạng số 314/CT-VKS-HM ngày 20/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Phạm Ngọc L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS 2015.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói ni lông chứa Heroin có khối lượng là 0,162 gam (cơ quan giám định đã trích 0,024 gam; còn lại là 0,138 gam)

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Ngày 26/7/2022, tại trước cửa số nhà số nhà 9Q19, ngõ 134 phố N, phường T, quận H, TP Hà Nội, Tổ Công tác Công an phường T, quận H, Hà Nội làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Phạm Ngọc L đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,162 gam để sử dụng. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - BLHS 2015 với tình tiết tàng trữ heroin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo là người đã có tiền án liên quan đến ma túy, tuy đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Khi lượng hình có xem xét các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không có tiền án, tiền sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số - để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được tên tuổi địa chỉ nên Cơ quan Điều tra không xử lý là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,162 gam (cơ quan giám định đã trích 0,024 gam; còn lại là 0,138 gam)

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Phạm Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Phạm Ngọc L 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2022.

Về vật chứng: áp dụng Điều 106 - BLTTHS 2015

Tịch thu tiêu hủy 0,162 gam Hêrôin (cơ quan giám định đã trích 0,024 gam; còn lại là 0,138 gam) (đã chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự quận H tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2022)

Về án phí: áp dụng Điều 136 - BLTTHS 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: áp dụng các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về việc thi hành án: áp dụng Điều 26 - Luật Thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ