vanban.org

Bản án 325/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01(một) năm 09(chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Thời hạn tạm giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01(một) năm 09(chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 325/2022/HS-ST
Ngày: 08-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ T Thuỷ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Yến Loan;

2. Bà Lê Thị Ngọc Giàu.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai qua hình thức trực tuyến đối với vụ án hình sự thụ lý số: 359/2022/TLST- HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1988 tại tỉnh A; nơi cư trú: Ấp T, xã T1, huyện T2, tỉnh A; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ văn hoá: 02/12; dân tốc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T3, sinh năm 1966 và bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1966; bị cáo có 02 con sinh năm 2010 và 2012; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 12/6/2022 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Trí S, vắng mặt.

- Ông Lê Văn H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/6/2022, Công an phường G, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương kiểm tra hành chính tại cơ sở trọ số: 48/4 khu phố B, phường G thành phố Thuận An. Qua kiểm tra phát hiện tại phòng số 29 có Trần Văn T và Nguyễn Trí S có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Lúc này, T lấy từ trong tủ nhôm đặt trong phòng trọ ra 01 túi nylon miệng kéo dính viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng và khai nhận số tinh thể màu trắng này là ma túy đá của T cất giấu để sử dụng. Công an phường Thuận Giao lập biên bản, đưa T cùng S về trụ sở làm việc rồi chuyển giao vụ việc cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 07/6/2022, Trần Văn T đi đến khu vực khu phố B, phường G, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương gặp đối tượng tên T1 (khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,70 mét, dáng người vừa, nước da ngâm đen, nói giọng miền Nam) mua 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) rồi đem về phòng trọ giấu vào tủ để sử dụng. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 11/6/2022, Nguyễn Trí S là bạn quen biết ngoài xã hội của T đến phòng trọ của T chơi. Đến 20 giờ 00 phút cùng ngày thì có lực lượng Công an phường Thuận Giao kiểm tra phát hiện T tàng trữ ma túy, S không biết việc Trần Văn T cất giấu ma túy trong phòng trọ.

Ngày 17/6/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có kết luận giám định số 270/KL – KTHS (MT) với nội dung: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,8505 gam; loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 352/CT-VKS ngày 23/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- 01 bì thư niêm phong ghi số 270/ PC09 là vật chứng trong vụ án nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Trí S khai nhận đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 10/6/2022 tại đường D21 thuộc khu phố 4, phường P, thành phố Thuận An tỉnh Bình Dương. Về nguồn gốc ma túy, vào ngày 01/6/2022 Sự được một người bạn quen biết ngoài xã hội (không rõ nhân thân, địa chỉ) cho S một ít để sử dụng. Do đó, ngày 15/6/2022 Công an phường G, thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội số 254A/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Trí S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền phạt là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Đối với đối tượng tên T1 đã bán ma túy cho bị cáo và đối tượng đã cho S ma tuý chưa xác định rõ nhân thân lai lịch, cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương để xác minh xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 11/6/2022, tại phòng trọ số 29 địa chỉ 48/4 khu phố B, phường G, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bị cáo Trần Văn T thực hiện hành vi tàng trữ 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng, qua kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định mẫu tinh thể trên là ma túy, có khối lượng 0,8505 gam loại Methamphetamine. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với đối tượng tên T1 bán ma túy cho bị cáo và đối tượng cho S ma tuý chưa xác định rõ nhân thân lai lịch, cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương để tiếp tục xác minh xử lý.

Đối với Nguyễn Trí S không biết việc Trần Văn T cất giấu ma tuý trong phòng trọ nên cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

01 bì thư niêm phong ghi số 270/PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là vật chứng trong vụ án nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2022

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư niêm phong, ghi vụ số 270/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên ngoài có chữ ký người chứng kiến Trần Văn T, chữ ký cán bộ nhận mẫu Ngô Minh Tuấn, chữ ký cán bộ giao mẫu Đoàn Nguyễn Thiện Quang và hình dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (Kèm sao y Kết luận giám định số 270/PC09 ngày 17 tháng 6 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/11/2022 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- VKSND thành phố Thuận An;

- Chi cục THADS thành phố Thuận An;

- Công an thành phố Thuận An;

- Chánh án (để báo cáo);

- Bị cáo;

- Lưu: HS, THAHS, AV.

Hồ Thanh Thuỷ

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THUẬN AN

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ ngày 08 tháng 9 năm 2022;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hoàng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tấn Tài và ông Thái Văn Trung.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 246/2022/TLST- HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với:

Bị cáo Đỗ Hữu Ty, sinh năm 2001 tại Đồng Tháp.

Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,QUYẾT ĐỊNH CÁC

VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

2. Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; các tài liệu, chứng cứ do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

3. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu Ty phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

4. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu Ty 01(một) năm 09(chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2022.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ghi số 136/MT-PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 gói thuốc lá hiệu Jet.

- Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An 01 xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave, nhãn hiệu không rõ, số loại không rõ, mang biển số 67L9-0850, số khung: VTTDCH094TT*008681, số máy: VTTJL1P52FMH...?...(dấu “?” là chữ số nguyên thủy bị mài mất số), xe không bửng, không gương, để tiếp tục xác minh làm rõ nguồn gốc xe và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/8/2022).

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Đỗ Hữu Ty phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

7. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

8. Các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

9. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không có.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

10. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

11. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 03/03 thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi

giờ

phút, ngày tháng năm 2020.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THUẬN AN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Lê Hoàng Vương Số:

/2022/HSST-QĐTG

Thuận An, ngày 08 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tấn Tài và ông Thái Văn Trung.

Căn cứ Điều 109, 113, 119 và 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Tạm giam bị cáo Đỗ Hữu Ty, sinh năm 2001 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Khóm An Thạnh A, phường An Lộc, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không.

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01(một) năm 09(chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Thời hạn tạm giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Điều 2: Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ