- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "tranh chấp ranh giới QSD đất"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ an thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l , sử dụng án ph , lệ ph T a án.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng D n sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng D n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ NG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 325/2022/DS-PT Ngày 28 - 7 - 2022 V/v Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ NG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Ch T m
Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi
Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà hạm Thị Ngọc Hà - Thư k T a án nh n d n tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở T a án nh n d n tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số: 48/2021/TL T-DS ngày 30 tháng 3 năm 2021 về việc Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất .
Do ản án d n sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 05 tháng 02 năm 2021 của T a án nh n d n huyện Thanh B ị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 144/2021/QĐ-PT ngày 17 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: 1. Bà Võ Ngọc Đ, sinh năm 1959.
2. Ông Trần Thanh L, sinh năm 1951.
Cùng Địa chỉ: ấp Nh, xã A, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: 1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1948.
Địa chỉ: ấp Nh, xã An h, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
2. Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1955.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
3. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1967.
Địa chỉ: ấp N, xã A, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
4. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957.
Địa chỉ: ấp Nh, xã A, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
5. Anh Nguyễn Văn h, sinh năm 1992.
6. Chị Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1993.
Cùng Địa chỉ: ấp N, xã A, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Hoài H, sinh năm 1990.
2. Cháu Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 2010.
3. Cháu Nguyễn Quốc H, sinh năm 2012.
4. Cháu Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 2014.
Người đại diện theo pháp luật các cháu Ng, H, Diễm M: Anh Nguyễn Hoài H, sinh năm 1990 (là cha ruột của cháu Ng, cháu H, cháu M).
Cùng Địa chỉ: ấp Nh, xã An Ph, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
5. Bà Huỳnh Thị A, sinh năm 1964.
Địa chỉ:, ấp Nh, xã A, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
6. Ông Huỳnh Văn Gi, sinh năm 1966.
Địa chỉ: ấp Nh, xã A , huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
7. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969.
Địa chỉ: ấp Tr, xã T n Th, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
8. Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số 3ff, ấp N, xã P, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
9. Ng n hàng Nông nghiệp và hát triển nông thôn Việt Nam.
Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Hữu L -chức vụ: Giám đốc Ng n hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Thanh B.
Địa chỉ: Số 1kk, thị trấn T, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp
10. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Ấp Nh, xã An h, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
11. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Ấp Nh, xã A, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
12. Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1954.
13. Anh Huỳnh Hữu Đ, sinh năm 1982.
14. Anh Huỳnh Văn L, sinh năm 1990.
15. Chị Huỳnh Thị L, sinh năm 1993.
Cùng địa chỉ: ấp Tr, xã T n T, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
16. Ủy an nh n d n huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Mai Văn Đ - chức vụ: Phó Chủ tịch.
Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: à Võ Ngọc Đ và ông Trần Thanh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn bà Võ Ngọc Đ và ông Trần Thanh L trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông, à của à Đ, ông L khai phá. Sau đó, Nhà nước thu hồi một phần và cấp lại cho ông Võ Văn B; ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 383, tờ ản đồ số 6, diện t ch 3.000m2, cấp ngày 23/9/1999. Ngày 13/12/2004, à Đ và ông B lập Hợp đồng chuyển nhượng và ngày 26/01/2005, à Đ được cấp giấy chứng nhận thửa số 383, tờ ản đồ số 6, diện t ch 3.000m2.
Phần c n lại, ngày 18/5/1994 ông L được UBND huyện Thanh B cấp giấy chứng nhận thửa số 384, tờ ản đồ số 6, diện t ch 2.175m2.
Nay đất thuộc tờ ản đồ số 95. Phần đất của à Đ, ông L tiếp giáp với đất của à Nguyễn Thị M, ông Huỳnh Văn Đ, ông Nguyễn Văn Th, bà Nguyễn Thị L. Phần đất của à Đ và ông L bị lấn chiếm nên yêu cầu trả đất, xác định ranh đất cụ thể như sau:
- Bà Màu thuê xe múc đất đào ao nuôi cá, lập vườn đã lấn qua phần đất chiều ngang 2m, chiều dài 58m, diện t ch khoảng 116m2. Qua đo thực tế yêu cầu trả đất phạm vi các mốc 1, 2, 14, 15 về mốc 1 theo Sơ đồ đo đạc diện t ch 118,7m2, thuộc thửa số 383, số 384, tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 19, 20).
- Ông Đ lấn chiếm phần đất hình tam giác thuộc thửa 384, diện t ch khoảng 16m2. Qua đo đạc thực tế yêu cầu trả đất trong phạm vi các mốc 7, 8, 9, 10 về mốc 7 theo Sơ đồ đo đạc, diện t ch 13m2, thuộc thửa số 384, tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 20).
Hiện nay, phần đất này ông Đ, bà Th, anh Đ, anh L, chị L đã chuyển nhượng cho anh h và chị Ng. Nên yêu cầu hủy một phần Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 03/10/2017, diện t ch 13m2, thuộc thửa số 384, tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 20) giữa ông Huỳnh Văn Đ, bà Nguyễn Thị Th, anh Huỳnh Hữu Đ, anh Huỳnh Văn L, chị Huỳnh Thị L với anh Nguyễn Văn h, chị Nguyễn Thị Kim Ng.
- Ông Th lấn chiếm phần đất thuộc thửa 383 và thửa 384 ngang 4,02m, dài 66m, diện t ch khoảng 133m2 . Qua đo đạc thực tế yêu cầu trả đất trong phạm vi các mốc 6, 7, 8 và mốc 6 theo Sơ đồ đo đạc, diện t ch 110,9m2 thuộc thửa số 383, số 384, tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 19, thửa số 20).
- Bà L lấn chiếm phần đất thuộc thửa 383, diện t ch khoảng 216,6m2. Qua đo đạc thực tế yêu cầu di dời vật kiến trúc, c y trồng trên đất trả đất trong phạm vi các mốc 3, 4, 5 và mốc 3 theo Sơ đồ đo đạc diện t ch 256,6m2, thuộc thửa số 383, tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 19). Hiện nay, à L và anh H, cháu Ng, cháu H, cháu M x y dựng nhà trên phần đất nêu trên để ở.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà M nhận chuyển nhượng của à Nguyễn Thị Kh (không nhớ rõ thời gian) diện t ch 02 công với giá là 08 chỉ vàng 24k. Ngày 22/6/2011 à M được cấp giấy chứng nhận đất thửa số 1177, tờ ản đồ số 6, diện t ch 2.667m2.
Đất khi nhận chuyển nhượng là đất lúa. Sau 2 năm à M đào ao nuôi cá và san lắp làm nền nhà ở. Khi à M nhận đất thì ranh đất ở hai đầu ờ mẫu có trụ tạm. Sau đó, các ên thống nhất và trồng 4 trụ ranh, các trụ đã đổ ê tông cố định (do à Võ Ngọc Đ đổ).
Vào ngày 03/4/2020, à M đã thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ng n hàng NN và TNT Việt Nam để vay số tiền 70.000.000 đồng. Ngày 29/9/2020, à M đã tất toán hợp đồng vay và rút lại tài sản thế chấp. Nay, à M không đồng theo yêu cầu của à Đ, ông L.
- Bị đơn ông Huỳnh Văn Đ trình bày:
Năm 2000, ông Đ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Nh và à Nông Thị Q; hai ên có làm giấy tay. Sau đó ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (không nhớ rõ thời gian).
Năm 2017, ông Đ, bà Th, anh Đ, anh L, chị L chuyển nhượng toàn ộ đất và đã giao toàn ộ giấy tờ cho anh h và chị Ng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/10/2017. Nay, ông Đ không đồng theo yêu cầu của à Đ, ông L.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Năm 2000, à L nhận chuyển nhượng đất của à Nguyễn Thị Kh diện t ch 175m2 với giá là 02 chỉ 01 ph n vàng 24k. Năm 2003, à L nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn B diện t ch 99m2 (33 tầm vuông, tầm 3m), với giá là 10.000.000 đồng. Hiện nay, à L chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hiện trạng đất nhận chuyển nhượng là đất lúa, có ờ mẫu, không có trụ ranh. Những người quản l , sử dụng đất gồm: Bà L, Nguyễn Hoài H và các con của anh H gồm: Nguyễn Thị Kim Ng, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị Diễm M.
Nay, à L không đồng theo yêu cầu của à Đ, ông L; yêu cầu công nhận cho bà L được quyền sử dụng đất diện t ch 256.6m2, trong phạm vi các mốc 3, 4, 5 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/02/2021.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn Th trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp của ông Th thừa kế của à Nguyễn Thị Ng (mẹ ông Th) để lại. Ông Th có đi kê khai đăng k quyền sử dụng đất nhưng chưa nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay, ông Th không đồng theo yêu cầu của à Đ, ông L.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn Ph và chị Nguyễn Thị Kim Ng không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoài H và các cháu Nguyễn Kim Ng, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thị Diễm M do anh H đại diện trình bày:
Anh H thống nhất với lời trình ày của à Nguyễn Thị L (mẹ anh H). Anh H không có công sức đóng góp vào việc à L nhận chuyển nhượng đất từ à Kh và ông B. Những người quản l , sử dụng đất gồm: à L, anh H và các con anh H gồm Kim Ng, Quốc H, Diễm M.
Nay, anh H không đồng theo yêu cầu à Đ, ông L; yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đang tranh chấp cho à L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Gi, bà Huỳnh Thị A trình bày:
Trước đ y, à Nguyễn Thị Kh (mẹ ông Gi) có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho à Nguyễn Thị M, à Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn B nhưng diện t ch, giá trị chuyển nhượng cụ thể ao nhiêu thì ông Gi không nhớ. hần đất ông B nhận chuyển nhượng từ à Kh thì ông B đã chuyển nhượng lại toàn ộ cho bà L. Hiện trạng phần đất chuyển nhượng đất cho à M, à L, ông B có ờ mẫu (ranh đất). Việc à Kh chuyển nhượng cho à M, à L và ông B rồi nay các ên phát sinh tranh chấp đất thì ông Gi, à A không có kiến, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B trình bày:
Khoảng năm 2000, ông B có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của à Nguyễn Thị Kh (không nhớ rõ diện t ch). Ông B sử dụng đất khoảng vài năm thì chuyển nhượng lại toàn ộ diện t ch đất nêu trên cho à L. Khi chuyển nhượng đất cho à L thì c n nguyên ờ mẫu (ranh đất). Việc chuyển nhượng giữa ông B và à Kh, sau đó, ông B chuyển nhượng lại cho à L thì có làm giấy tay.
Việc tranh chấp giữa à Đ, ông L với à M, ông Th, ông Đ, à L thì ông B không có kiến.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Tr trình bày:
Anh Tr thống nhất với lời trình ày của à Nguyễn Thị M (mẹ anh Tr). Anh Tr không đồng theo yêu cầu của à Đ, ông L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trình bày:
Ng n hàng có kiện yêu cầu à M và anh Tr, bà B, ông D liên đới trả cho Ng n hàng số tiền vốn gốc là 70.000.000 đồng và tiền lãi là 2.996.575 đồng, tổng cộng là 72.996.575 đồng, yêu cầu tiếp tục t nh lãi phát sinh đến khi Ng n hàng thu hết khoản nợ.
Ngày 29/9/2020, Ng n hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có Đơn xin rút đơn khởi kiện.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà Nguyễn Thị B có k tên vào Hợp đồng ủy quyền ngày 25/3/2020. Theo Hợp đồng, à B ủy quyền cho à M (mẹ à B ch) được đại diện hộ gia đình thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ng n hàng để vay số tiền 70.000.000 đồng. Ngày 29/9/2020, à M đã tất toán hợp đồng vay và rút lại tài sản thế chấp.
Đối với việc tranh chấp giữa à Đ và ông L với bà M, ông Th, ông Đ và à L thì à B không đồng theo yêu cầu của à Đ, ông L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Th, anh Huỳnh Hữu Đ, anh Huỳnh Văn L và chị Huỳnh Thị L không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.
Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thanh B quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng d n sự;
Khoản 1 Điều 117, Điều 129, Điều 175, Điều 502 của Bộ luật d n sự năm 2015;
Điều 131 và Điều 463 của Bộ luật d n sự năm 1995;
Điểm a khoản 3 Điều 167 và Điều 166 của Luật đất đai năm 2013;
Khoản 2 Điều 31 và khoản 3 Điều 76 của Luật đất đai năm 1993.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph T a án.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn ộ yêu cầu khởi kiện của à Võ Ngọc Đ và ông Trần Thanh L.
Giữ nguyên hiện trạng quyền sử dụng đất của à Đ, ông L với à M, à L, ông Th, ông Đ (ông Đ đã chuyển nhượng cho anh h và chị Ng).
Ranh giới quyền sử dụng đất của à Đ, ông L, à M, à L, ông Th, ông Đ (ông Đ đã chuyển nhượng cho anh h và chị Ng) là đường nối các 2, 3, 5, 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 và mốc 2 theo Sơ đồ đo đạc ngày 05/02/2021 của Chi nhánh Văn ph ng đăng k đất đai huyện Thanh B.
Bà Nguyễn Thị L được quyền sử dụng đất diện t ch 256,6m2 thửa số 18, tờ ản đồ số 95, trong phạm vi các mốc 3, 4, 5 và 3 Sơ đồ đo đạc ngày 05/02/2021 của Chi nhánh Văn ph ng đăng k đất đai huyện Thanh B.
Bà L được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê khai, đăng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo Biên ản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2019, Biên ản định giá ngày 29/3/2019 và Sơ đồ đo đạc ngày 05/02/2021 của Chi nhánh Văn ph ng đăng k đất đai huyện Thanh B).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ng n hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về việc yêu cầu à M, anh Tr, bà B và ông D liên đới trả cho Ng n hàng số tiền vốn gốc là 70.000.000 đồng và tiền lãi là 2.996.575 đồng, tổng cộng là 72.996.575 đồng (Bảy mươi hai triệu ch n trăm ch n mươi sáu nghìn năm trăm ảy mươi lăm đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Ngọc Đ và ông Trần Thanh L được miễn án ph theo quy định của pháp luật.
Trả cho Ng n hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án ph đã nộp là 1.825.000 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Về chi phí tố tụng: Chi ph xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ngày 29/3/2019 là 400.000 đồng, chi ph theo Hợp đồng đo đạc là 5.868.054 đồng, tổng cộng là 6.268.054 đồng do à Võ Ngọc Đ và ông Trần Thanh L đã nộp tạm ứng và chi xong.
Ngoài ra ản án c n tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử à Đ, ông L kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm với yêu cầu giải quyết sửa toàn ộ quyết định ản án là chấp nhận toàn ộ yêu cầu khởi kiện của ông, à.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt bà Đ. Đương sự có mặt và kh ng định đ uất trình thêm đầy đủ ch ng c cho Tòa án giải quyết vụ án
Bà Đ trình ày: Ông L xin vắng mặt. Ông, à giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo là yêu cầu các ị đơn, những người liên quan trong hộ sử dụng đất di dời tài sản và trả đất theo ranh giới à Đ, ông L xác định.
Tại phiên t a đại diện Viện kiểm sát phát iểu kiến về việc tu n theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư k đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, người ảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp đương sự có mặt thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án xét do T a án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng thu thập chứng cứ chưa đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Đề nghị hủy ản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên t a, kiến phát iểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Về thành phần những những người tiến hành tố tụng không có khiếu nại kiến, yêu cầu gì.
2 Về nội dung tranh chấp T a án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ xác định: Quyền sử dụng đất theo yêu cầu à Đ, ông L gồm thửa số 383, thửa số 384, cùng tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 19, thửa số 20, cùng tờ ản đồ số 95) đất tọa lạc tại ấp Nh, xã An h, huyện Thanh B, tỉnh Đồng Tháp.
- Về nguồn gốc thửa số 383, tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 19, tờ ản đồ số 95) là của ông Võ Văn B; ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/9/1999 với diện t ch 3.000m2. Tuy nhiên, theo Bản án d n sự sơ thẩm số 20/DS-ST ngày 24/02/2004 của T a án nh n d n huyện Thanh B và Bản án d n sự phúc thẩm, số: 257/DS-PT ngày 22/7/2004 của T a án nh n d n tỉnh Đồng Tháp đều xác định thửa 383, diện t ch thực đo là 2.499m2 và xác định tứ cận thửa đất.
Ngày 13/12/2004, à Võ Ngọc Đ với ông Võ Văn B lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện t ch 3.000m2; đến ngày 26/01/2005 à Điệp được UBND huyện Thanh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện t ch là 3.000m2. Như vậy, diện t ch đất à Đ được cấp giấy chứng nhận không đúng với diện t ch thực đo của thửa số 383 là 2.499m2 đã được xác định trong các Bản án nêu trên.
Nguồn gốc thửa đất số 384, tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 20, tờ ản đồ số 95) là ông, à của à Đ, ông L để lại. Ngày 18/5/1994, ông Trần Thanh L được UBND huyện Thanh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 384 diện t ch là 2.175m2.
Như vậy, tổng diện t ch của thửa 383 và thửa 384 là 4.674m2 so với diện t ch theo sơ đồ đo đạc ngày 05/02/2021 của Chi nhánh Văn ph ng đăng k đất đai huyện Thanh B thể hiện thửa 383 và thửa 384 (nay là thửa số 19, thửa số 20) với tổng diện t ch là 4.761.7m2, là có sự chênh lệch nhiều hơn với diện t ch 87.7m2.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 05/02/2021 của Chi nhánh Văn ph ng đăng k đất đai huyện Thanh B thể hiện phần đất à Đ, ông L yêu cầu khởi kiện tranh chấp không đúng với giáp thửa đất với à M, ông Đ, ông Th, bà L quản l sử dụng .
Cho nên, à Đ và ông L xác định à M, ông Đ (ông Đ đã chuyển nhượng cho anh Ph và chị Ng), ông Th, bà L lấn chiếm đất của à Đ và ông L là không có căn cứ.
2.1 Xét t nh hợp pháp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/10/2017, giữa à Nguyễn Thị Th, ông Huỳnh Văn Đ, anh Huỳnh Hữu Đ, anh Huỳnh Văn L và chị Huỳnh Thị L với anh Nguyễn Văn h và chị Nguyễn Thị Kim Ng.
Xét thấy, tại thời điểm lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì các ên tham gia tự nguyện, có năng lực hành vi d n sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và được UBND xã A chứng thực ngày 03/10/2017. Do đó, à Đ và ông L yêu cầu hủy một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không có căn cứ.
2.3 Do đó yêu cầu của à Đ, ông L không có căn cứ chấp nhận; kiến của à M, ông Đ, ông Th là có căn cứ chấp nhận.
2.4 Xét à L là không đồng theo yêu cầu của à Đ, ông L; yêu cầu công nhận cho à L diện t ch 256.6m2, trong phạm vi các mốc 3, 4, 5 theo Sơ đồ đo đạc.
Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì à L, ông B, à Kh trên cơ sở tự nguyện, có năng lực hành vi d n sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Hợp đồng chuyển nhượng có lập giấy tay nhưng không có chứng nhận; chứng thực của cơ quan thẩm quyền là vi phạm quy định về hình thức, thủ tục hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng hoàn thành việc trả tiền và giao đất cho à L sử dụng. Do đó, công nhận cho à L được quyền sử dụng đất đối với diện t ch 256,6m2, thửa số 18, tờ ản đồ số 95.
Anh H, đại diện hợp pháp các cháu Ng, H, M là đồng công nhận quyền sử dụng đất đang tranh chấp cho à L. Xét kiến của anh H là có căn cứ chấp nhận.
2.5 Ông Huỳnh Văn Gi, bà Huỳnh Thị A, ông Nguyễn Văn B là không có kiến, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2.6 Ý kiến của anh Nguyễn Văn Tr; bà Nguyễn Thị B là không đồng theo yêu cầu của à Đ, ông L là có căn cứ chấp nhận.
2.7 Đối với Ng n hàng là rút lại yêu cầu à M, anh Tr, bà B và ông D liên đới trả tiền cho Ng n hàng. Xét việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện nên đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ng n hàng.
3 Ngoài ra ản án c n tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm à Đ, ông L kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, à đối với các ị đơn.
4 Qua các chứng cứ có trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên t a phúc thẩm.Tại phiên t a phúc thẩm không có ị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham dự trừ anh Tr (con à M) trước đ y thông áo à M đã chết; à Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không yêu cầu đo đạc lại đất.
Qua trình ày của à Đ, ông L. Xét T a án sơ thẩm thẩm định thực tế chỉ đo tại vùng đất tranh chấp các ị đơn đang sử dụng.
Căn cứ nhận định ác yêu cầu khởi kiện à Đ, ông L là căn cứ diện t ch đo đạc đất thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của à Điệp, ông L. Nguồn gốc thửa số 383 quyết định theo Bản án số 257/DS-PT ngày 22/7/2004 của T a án nh n d n tỉnh Đồng Tháp xác định diện t ch thực đo là 2.499m2 và xác định tứ cận thửa đất. Ngày 13/12/2004, ông B lập Hợp đồng chuyển nhượng cho à Đ và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện t ch 3.000m2. Như vậy, không đúng với diện t ch 2.499m2 đã được xác định trong các Bản án nêu.
Nguồn gốc thửa đất số 384, tờ ản đồ số 6 (nay là thửa số 20, tờ ản đồ số 95) là ông, à của à Đ, ông L để lại và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 384 diện t ch là 2.175m2.
Như vậy, tổng diện t ch của thửa 383, 384 là 4.674m2 so với diện t ch theo sơ đồ đo đạc ngày 05/02/2021 của Chi nhánh Văn ph ng đăng k đất đai huyện Thanh B thể hiện thửa 383, 384 (nay là thửa số 19, 20) với tổng diện t ch là 4.761.7m2, là có sự chênh lệch nhiều hơn với diện t ch 87.7m2.
Tuy nhiên việc nhận định này cũng chưa đúng thực tế đất à Đ đứng tên quyền sử dụng đất vì Bản án cũng chỉ giải quyết diện t ch đất giữa nguyên đơn à Nguyễn Thị Kh với ị đơn ông B, người liên quan là à Đ, ông L diện t ch thực tế là 1.100,8m2 và ghi nhận vị tr giáp lộ ranh A - T n Th có cạnh chiều dài 30,8m. Khi đăng k quyền sử dụng đất thì đất à Đ thì vị tr giáp lộ có chiều dài là 25,52m; diện t ch được cấp giấy chứng nhận là 2.990m2. Nhưng khi giải quyết tranh chấp qua đo đạc thì vị tr đoạn này đo có chiều dài là 23,47m. Sự chênh lệch thay đổi chiều dài này chưa được làm rõ.
Đối với đất ông L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 384 diện t ch là 2.175m2. Nhưng ngày 04/04/2016 ông L có đơn xin cấp đổi và được cấp lại giấy chứng nhận ngày 16/11/2016 diện t ch chỉ c n là 1.760m2.
Như vậy việc tăng, giãm, thay đổi vị tr , diện t ch đất chưa được làm rõ. Cần phản thu thập thêm hồ sơ thi hành án, việc cấp đổi giấy chứng nhận à Đ, ông L để xác định đúng đất sử dụng của à Đ, ông L.
5 Đồng thời à Đ, ông L kháng cáo cho r ng chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của ông, à là căn cứ theo Tờ thỏa thuận giữa à Đ với à L, ông Th được lập tại T a án huyện Thanh B vào năm 2014, 2017 nên à Đ rút đơn khởi kiện, T a án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Theo nội dung thỏa thuận ngày 11/6/2014 ranh đất à Đ với ông Th là hướng đông giáp c y ạch đàn đo qua đất ông Th chiều ngang 2m kéo đến trụ đá ranh có chiều dài 18,50m là ranh đất hai ên. Theo thỏa thuận ngày 8/9/2019 giữa à Đ với à L là à L thống nhất căn nhà và c y trồng trên diện t ch đất 216,6m2 của à Đ và sẽ di dời trả đất vào khoảng 3/2018 l.
Hiện nay xãy ra tranh chấp lại qua đo thực tế đất à L đang sử dụng là 256,6m2; theo tranh chấp năm 2019 diện t ch là 216,6m2. Như vậy nhiều hơn 40m2 cũng chưa được làm rõ l do; cũng như tại sao có sự thỏa thuận giữa à Điệp với à L, ông Th trước đ y.
Những vấn đề này cần phải làm rõ để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của à Đ, ông L đúng quy định pháp luật.
6 Ngoài ra T a án cấp sơ thẩm xác định giải quyết vụ án là tranh chấp ranh đất nhưng lại quyết định cho à L được đăng k quyền sử dụng đất diện t ch 256,6m2 thửa số 18, tờ ản đồ số 95. Trong khi à L không có đơn yêu cầu; không có thụ l giải quyết hợp đồng chuyển nhượng đất của à L. Như vậy đ y quyết định sai, xác định giải quyết thiếu quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng đất. Ngoài ra đất ruộng à L lại sử dụng cất nhà sát lộ chỉ có diện t ch 256,6m2. Đất ph a trước giáp lộ, ph a sau là đất ruộng; vị tr tiếp giáp của đất cũng chỉ được 03 cạnh nên cần phải hỏi kiến Ủy an nh n d n huyện Thanh B về việc này nếu có yêu cầu và xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
7 Qua những nhận định trên do T a án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, chưa thu thập đầy đủ các chứng cứ giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định hủy ản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho T a án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật. Do hủy ản án sơ thẩm nên đối với việc à M, ông Nguyễn Văn T (chồng à M) chết. Qua xác nhận số 217/UBND ngày 28/6/2022 của Ủy an nh n d n xã A thì à M, ông T có 03 người con là Nguyễn Thị D, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Tr. Anh Tr đã có tham gia người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; sau khi T a án cấp sơ thẩm thụ l sẽ kiểm tra lại đưa những người kế thừa quyền nghĩa vụ à M, ông T tham gia giải quyết lại vụ án đúng theo quy định pháp luật.
Do hủy ản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của các đương sự.
Xét đề nghị của của đại diện Viện kiểm sát nh n d n là đúng quy định pháp luật và có căn cứ nên chấp nhận.
Về án ph phúc thẩm: Bà Đ, ông L là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án ph , án ph phúc thẩm. Đồng thời do hủy ản án nên đương sự kháng cáo không phải chịu tiền án ph d n sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật tố tụng d n sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng D n sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ an thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l , sử dụng án ph , lệ ph T a án.
Tuyên xử:
- Hủy ản án d n sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 05 tháng 02 năm 2021 của T a án nh n d n huyện Thanh B.
- Giao hồ sơ vụ án cho T a án nh n d n huyện Thanh B giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Án ph d n sự sơ thẩm và các chi ph khác (nếu có) sẽ được xác định lại khi vụ án được tiếp tục giải quyết.
- Về án ph d n sự phúc thẩm: à Đ, ông L không phải chịu tiền án ph d n sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp; - T a án nd cấp cao Tp. HCM; - T a án nd huyện Thanh B; - Chi cục THADS huyện Thanh B; - Lưu hồ sơ vụ án, V . | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Ch T m |