vanban.org

Bản án 325/2020/KDTM-PT — Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/05/2020 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

38; điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 148, Điều 300 của Bộ luật

Tố tụng Dân sự năm 2015; thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng thuê cẩu tháp"
  • Tòa quyết gì? 38; điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 148, Điều 300 của Bộ luật
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————
Bản án số: 325/2020/KDTM-PT
Ngày: 14/5/2020
V/v Tranh chấp hợp đồng thuê cẩu tháp

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Như Mai

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Thanh Nhàn

Ông Ngô Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2020/TLPT-KDTM

ngày 13 tháng 02 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng thuê cẩu tháp”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 221/2019/KDTM-ST ngày

13/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 1 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1634/2020/QĐPT-

KDTM ngày 15/4/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại

dịch vụ xây dựng HA

Địa chỉ trụ sở: Số 299/2 đường ĐT, khu phố 3, phường P, Quận A, Thành

phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Y, sinh năm 1987.

2. Bị đơn: Công ty cổ phần tư vấn xây dựng sản xuất ĐT

Địa chỉ trụ sở: Số 32 đường TTT, phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí

Minh

Người đại diện ủy quyền: Ông P, sinh năm 1970, theo giấy ủy quyền lập

ngày 22/5/2017.

Người kháng cáo: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại

dịch vụ xây dựng HA (nguyên đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2016, đơn xin rút và bổ sung một phần yêu

cầu khởi kiện ngày 10/10/2016 và quá trình tham gia tố tụng, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ xây dựng HA trình bày:

Ngày 30/01/2015, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại

dịch vụ xây dựng HA (gọi tắt Công ty HA) và Công ty cổ phần tư vấn xây dựng sản xuất ĐT (gọi tắt Công ty ĐT) ký hợp đồng cho thuê cẩu tháp số: 00115TCT/HA-ĐT, để Công ty ĐT thuê 02 bộ cẩu tháp Model QTZ5613 thi công công trình Vincom Đồng Nai, thời gian thuê tạm tính 05 tháng, giá trị hợp đồng 1.097.800.000 đồng, đã bao gồm 10% thuế VAT; trong đó phí trả một lần là phí vận chuyển đi và về, phí lắp dựng và tháo dỡ, phí buloon chân đế cẩu tháp và phí kiểm định cẩu tháp; phí trả theo tháng là phí thuê cẩu, lương tài xế lái cẩu, phụ cẩu và phí bảo trì. Phương thức và điều kiện thanh toán là ngay khi ký hợp đồng, Công ty ĐT tạm ứng 02 tháng tiền thuê 02 bộ cẩu tháp là 184.000.000 đồng. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Công ty HA bàn giao cẩu tháp đưa vào sử dụng và Công ty ĐT nhận được hồ sơ thanh toán hợp lệ thì Công ty ĐT phải thanh toán các khoản phí trả một lần theo thỏa thuận. Tiền thuê cẩu tháp và chi phí nhân công vận hành hàng tháng được thanh toán trong tháng sau tháng hoạt động, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Công ty ĐT nhận đủ hồ sơ thanh toán theo quy định.

Ngày 24/02/2015 và ngày 04/3/2015, Công ty HA đã hoàn tất việc lắp dựng

kiểm định và đưa vào hoạt động 02 bộ cẩu tháp số 1 và số 2. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty ĐT đã thanh toán cho Công ty HA số tiền 1.514.898.822 đồng, số tiền còn nợ 154.767.432 đồng là tiền thuê cẩu tháp tháng 7, tháng 8/2015 Công ty ĐT chưa thanh toán.

Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2016, Công ty HA khởi kiện yêu cầu Công ty

ĐT trả số tiền 399.267.432 đồng (bao gồm: Tiền thuê còn nợ của hợp đồng cho thuê cẩu tháp là 338.767.432 đồng; tiền bồi thường thiệt hại do một đốt chân đế bị chôn ngầm, không lấy được là 60.500.000 đồng), nhưng theo đơn xin rút và bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện ngày 10/10/2016, Công ty HA khởi kiện yêu cầu Công ty ĐT trả số tiền 266.080.820 đồng (bao gồm: Tiền thuê cẩu tháp còn nợ tháng 7, tháng 8/2015 là 154.767.432 đồng; tiền lãi chậm trả trên nợ gốc 154.767.432 đồng, mức lãi suất áp dụng 0,05%/ngày tạm tính đến ngày 27/4/2017 là 50.813.388 đồng; tiền bồi thường thiệt hại do một đốt chân đế bị chôn ngầm không lấy lên được là 60.500.000 đồng và trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Quá trình tham gia tố tụng, Công ty ĐT trình bày:

Công ty ĐT xác nhận: Ngày 30/01/2015, Công ty ĐT và Công ty HA ký

hợp đồng cho thuê cẩu tháp số: 00115TCT/HA-ĐT để Công ty ĐT thuê 02 bộ cẩu tháp Model QTZ5613 của Công ty HA để thi công công trình Vincom Đồng Nai, thời gian thuê, giá trị hợp đồng, thuê thiết bị cẩu tháp, thuê lao động vận hành cẩu tháp, phương thức, điều kiện thanh toán và quá trình thực hiện hợp đồng như Công ty HA trình bày là đúng. Thực hiện hợp đồng, Công ty ĐT đã tạm ứng và thanh toán cho Công ty HA tổng số tiền 1.514.898.822 đồng.

Ngày 06/7/2015, các bên đối chiếu, xác nhận giá trị thực tế của hợp đồng

cho thuê cẩu tháp là 1.384.898.822 đồng nhưng Công ty ĐT đã tạm ứng và

thanh toán cho Công ty HA số tiền 1.514.898.822 đồng là vượt quá giá trị của

hợp đồng cho thuê cẩu tháp. Đối với lao động vận hành cẩu tháp số 2 gây thiệt

hại, Công ty ĐT đã bồi thường cho bên thứ ba số tiền 50.000.000 đồng nên

Công ty HA phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền trên cho Công ty ĐT. Đối với

yêu cầu khởi kiện của Công ty HA đòi Công ty ĐT trả tiền thuê cẩu tháp còn nợ,

tiền lãi chậm trả nợ gốc và tiền bồi thường thiệt hại do một đốt chân đế bị chôn

ngầm không lấy lên được thì Công ty ĐT không đồng ý vì không có cơ sở, đề

nghị Tòa án xem xét theo quy định.

Tại Bản án sơ thẩm số 221/2019/KDTM-ST ngày 13/11/2019 của Tòa án

nhân dân Quận 1 đã quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn

một thành viên thương mại dịch vụ xây dựng HA đòi Công ty cổ phần tư vấn

xây dựng sản xuất ĐT trả số tiền 291.909.899đ (hai trăm chín mươi mốt triệu,

chín trăm lẻ chín nghìn, tám trăm chín mươi chín đồng), (bao gồm: Tiền thuê

cẩu tháp còn nợ tháng 7, tháng 8 năm 2015 là 154.767.432 đồng; tiền lãi chậm

trả phát sinh trên nợ gốc 154.767.432 đồng, tạm tính từ ngày 08/10/2015 đến

ngày 30/10/2019 là 76.642.467 đồng; bồi thường thiệt hại số tiền 60.500.000

đồng do một đốt chân đế bị chôn ngầm không lấy lên được).

2. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng sản xuất

ĐT hỗ trợ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ

xây dựng HA số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).

Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, tại Chi cục thi hành án dân

sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường

hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể

từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền

phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi

hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức

lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các

đương sự.

Ngày 22/11/2019, nguyên đơn là Công ty HA có đơn kháng cáo toàn bộ

Bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa Bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của

nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Bà Y

đại diện pháp luật của Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ xây

dựng HA và ông P đại diện ủy quyền của Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng sản xuất ĐT thống nhất thỏa thuận: Công ty ĐT đồng ý thanh toán cho Công ty HA số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng. Thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực thi hành. Công ty HA tự nguyện chịu án phí sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội

đồng xét xử, các đương sự tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị

đơn và nguyên đơn thống nhất thoả thuận việc giải quyết toàn bộ vụ án, án phí cũng như cách thức trả tiền. Xét thoả thuận trên không trái quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 13 tháng 11 năm 2019, Toà

án nhân dân Quận 1 đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án số 221/2019/KDTM-ST, các đương sự đều có mặt tại phiên tòa. Ngày 22/11/2019, Công ty HA có đơn kháng cáo. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 thì kháng cáo của Công ty HA là còn trong hạn luật định nên chấp nhận.

[2] Về tố tụng:

Nguyên đơn – Công ty HA khởi kiện tranh chấp hợp đồng thuê cẩu tháp

đối với bị đơn là Công ty ĐT có trụ sở tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì Tòa án nhân dân Quận 1 có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Do có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1 nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Về nội dung:

Xét thấy, việc thỏa thuận giải quyết toàn bộ vụ án của các bên đương sự là

hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 300 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Từ những phân tích nêu trên xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận.

[5] Án phí:

- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do các bên thỏa thuận được số

tiền phải thanh toán cho nhau là 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng

nên sửa án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Án phí kinh doanh thương mại

sơ thẩm là 6.000.000 (sáu triệu) đồng, Công ty HA chịu nhưng được trừ vào số

tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.981.686 (chín triệu chín trăm tám mươi mốt

nghìn sáu trăm tám mươi sáu) đồng theo Biên lai thu số AA/2014/0004109 ngày

23/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1. Hoàn lại cho Công ty HA số

tiền chênh lệch là 3.981.686 (ba triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm

tám mươi sáu) đồng.

- Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 5

Điều 29 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí và lệ phí Toà án, người kháng cáo là Công ty HA phải chịu án phí phúc thẩm

là 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc

thẩm đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu số

AA/2019/0005463 ngày 10/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35; điểm b Khoản 3 Điều

38; điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 148, Điều 300 của Bộ luật

Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi bổ sung năm

2014),

Sửa bản án sơ thẩm số 221/2019/KDTM-ST ngày 13/11/2019 về việc

“Tranh chấp hợp đồng cho thuê cẩu tháp” của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành

phố Hồ Chí Minh.

1. Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng sản xuất ĐT thanh toán cho Công ty

TNHH một thành viên thương mại dịch vụ xây dựng HA số tiền 120.000.000

(một trăm hai mươi triệu) đồng.

Thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực thi hành tại cơ quan thi hành

án có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến

khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số

tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ

luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Nguyên đơn, Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ xây dựng

HA phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.000.000 (sáu triệu) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.981.686 (chín triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi sáu) đồng theo Biên lai thu số AA/2014/0004109 ngày 23/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1. Hoàn lại cho Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ xây dựng HA số tiền chênh lệch là 3.981.686 (ba triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi sáu) đồng.

3. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ xây dựng HA phải chịu

án phí phúc thẩm là 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0005463 ngày 10/12/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 1.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ