vanban.org

Bản án 324/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 17/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lữ May K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lữ M Khăm 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2026. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 6 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ May K - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lữ May K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Luật Tư pháp người; Điều 115 Luật Tư pháp người

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
Bản án số: 324/2026/HSST

Ngày: 17/7/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Tường Nga Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Long và Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Thạch Thị Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 323/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 06 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 326/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 07 năm 2026 đối với bị cáo:

LỮ MAY K, sinh ngày 12/9/2009 tại tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Bản C, xã C, tỉnh Nghệ An; nơi ở: Không xác định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; con ông Lừ Văn T, sinh năm 1982 và bà Óc Thị T1, sinh năm 1984; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/5/2026, bị tạm giữ từ ngày 19/5/2026, chuyển tạm giam từ ngày 25/5/2026; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố H. Có mặt.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

- Bà Óc Thị T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Bản C, xã C, tỉnh Nghệ An (Vắng

mặt)

- Ông/Bà Trần Thanh T2 – Phó bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

phường V

*Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Công Đ - Trợ giúp viên pháp lý số 1- Trung tâm T3

*Người làm công tác xã hội: Không

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 18/5/2026, tại đường C, phường P, thành phố Hà Nội, Tổ công tác Công an phường P phối hợp với Tổ công tác Y3/141 - Công an thành phố H phát hiện Lữ May Khăm điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 26B2-837.90, chở Lò Văn S, có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ tại chiếc ốp điện thoại di động của K 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa K, S về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ của Lữ May Khăm: 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12, vỏ máy màu trắng.

- Thu giữ của Lò Văn S: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max màu vàng và 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu sơn xanh, biển kiểm soát 26B2-837.90.

Tại Kết luận giám định số 5014/KL-KTHS ngày 28/5/2026 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,365 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lữ May K và Lò Văn S đều khai nhận: K và S làm thuê tại khu vực Bắc Ninh. Do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng, chiều ngày 18/5/2026, K liên hệ hỏi mua ma túy Heroine của một tài khoản mạng xã hội tên “Niên”. Người này đồng ý bán và hẹn K giao dịch tại khu vực gần cầu T. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, K rủ S đi mua ma túy Heroine về để cùng sử dụng, S đồng ý. S đề nghị K ứng tiền mua ma túy trước, khi có tiền S sẽ trả lại Khăm 250.000 đồng, K đồng ý. Sau đó, S điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 26B2-837.90 chở K đến khu vực gần cầu T. Khi đến điểm hẹn, S đứng phía ngoài chờ, K đi bộ đến gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch và đưa 500.000 đồng để mua 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng. Biết đó là H, K cất giấu túi ma túy vào phía trong chiếc ốp lưng điện thoại của mình rồi quay lại chỗ S. S điều khiển xe mô tô chở K về, khi đến đoạn đường C, phường P thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu xác định Lữ May K dương tính với chất ma túy. Khăm khai nhận lần gần nhất sử dụng Heroine khoảng 01 tuần trước khi bị bắt. Quá trình xác minh xác định K không thuộc diện quản lý theo Điều 256a Bộ luật Hình

2

sự. Ngày 22/6/2026, Công an phường P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Cáo trạng số 388/CT-VKSKV5 ngày 25/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố bị cáo Lữ May K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 17, 50,58 Bộ luật Hình sự; các Điều 12, 115 và 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên

- Tuyên bố bị cáo Lữ May K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 20 -22 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo là ông Trần Thanh T2 đề nghị Toà án xem xét quyết định theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Bị cáo là người chưa thành niên, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên. Quá trình giải quyết vụ án đã bảo đảm sự tham gia của người đại diện theo pháp luật, người bào chữa và các quyền tố tụng đặc thù của bị cáo là người chưa thành niên. Bị cáo, người đại diện theo pháp luật, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng nêu trên đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lữ May K khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của Lò Văn S, biên bản bắt người phạm tội

3

quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 18/5/2026, tại đường C, phường P, thành phố Hà Nội, bị cáo Lữ May K cùng Lò Văn S tàng trữ trái phép 0,365 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Heroine là chất ma túy thuộc danh mục Nhà nước quản lý nghiêm ngặt. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ là 0,365 gam, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên, mới 16 tuổi 08 tháng 06 ngày, sự phát triển về thể chất, tâm lý, nhận thức pháp luật và khả năng tự kiềm chế còn hạn chế. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về xử lý chuyển hướng và hình phạt đối với người chưa thành niên: Bị cáo thực hiện tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp pháp luật không cho phép áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng về ma túy. Vì vậy, việc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với bị cáo là có căn cứ. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử tuân thủ nguyên tắc quy định tại Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên: hình phạt chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, ngăn ngừa phạm tội mới; chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn khi các hình phạt và biện pháp khác không bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa; đồng thời phải áp dụng mức án nhẹ hơn và với thời hạn thích hợp ngắn nhất so với người thành niên phạm tội tương ứng.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, loại và khối lượng ma túy bị tàng trữ, vai trò của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy

4

cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhưng áp dụng mức hình phạt dưới giới hạn tối đa dành cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 6 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động iPhone 12, vỏ máy màu trắng, bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua ma túy và cất giấu ma túy

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với Lò Văn S, ngày 10/6/2026, Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can và tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đối với vật chứng thu giữ của S được tách để xử lý trong vụ án đối với Lò Văn S.

Đối với người bán ma túy, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý; khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38, 50,58 Bộ luật Hình sự2015; các Điều 12, 115 và 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên;

Tuyên bố bị cáo Lữ May K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lữ M Khăm 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2026.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 6 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có số Heroine còn lại sau giám định và bao gói vật chứng, theo tình trạng ghi trong quyết định chuyển vật chứng số 293 ngày 25/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 với cơ quan cảnh sát điều tra công an Thành phố H.

5

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lữ May K được miễn án phí án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo và người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; nếu vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ